Nguyên Hồng, chuyện một người cha mẫu mực

Nhà văn Nguyên Hồng sinh ra và lớn lên ở Nam Định, mồ côi cha từ năm 12 tuổi. Mẹ ông đi thêm bước nữa trước sự ruồng bỏ, hắt hủi của gia đình nhà chồng, không cho gần con. 

Nguyên Hồng lớn lên bên cạnh bà và cô, hầu như thiếu tình yêu thương. Năm học hết bậc tiểu học, ông theo mẹ ra Hải Phòng kiếm sống trong các xóm chợ nghèo, rồi về Hà Nội công tác và sau đó về Bắc Giang.

Tuy nhiên, có thể coi Hải Phòng là quê hương thứ hai, nơi Nguyên Hồng đã gắn bó và trải qua những năm tháng hàn vi nhất của cuộc đời và Hải Phòng cũng là mảnh đất có tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến nghiệp văn chương của ông.

Chính tại nơi đây, ông có cơ duyên gặp Thế Lữ ở ngõ Nghè để rồi theo đuổi nghề văn từ đó. Năm 1936, truyện ngắn đầu tay Linh hồn của ông in trên Tiểu thuyết thứ bảy. 

Nhưng chỉ đến khi tiểu thuyết đầu tay Bỉ vỏ xuất hiện trên văn đàn, năm Nguyên Hồng 19 tuổi, thì tiếng tăm của ông mới thực sự khiến giới văn chương sửng sốt trước bức tranh xã hội sinh động về thân phận những con người nhỏ bé dưới đáy xã hội như Tám Bính, Năm Sài Gòn... Bỉ vỏ sau đó đã đoạt giải thưởng văn chương danh giá của Tự lực văn đoàn, 1937.

7 người con của nhà văn Nguyên Hồng.
7 người con của nhà văn Nguyên Hồng.

Dịch giả Thanh Thư, con gái Nguyên Hồng tiết lộ: "Cô em gái áp út Yên Thế, nhờ có sữa Liên Xô, là nhuận bút của cuốn Bỉ vỏ được dịch sang tiếng Nga, nên mũm mĩm, cao lớn nhất trong các chị em. Cha tôi là một con người đầy mâu thuẫn. 

Thường thì ông dịu dàng như một người mẹ, giọng nói của ông ấm và ngọt, chúng tôi vẫn bảo giống như giọng của cha cố khi giảng đạo. Nhưng, nếu như đúng lúc ông cần một cuốn sách nào đó mà chúng tôi đã đánh mất hoặc đang cho ai mượn thì ông gầm lên như một con hổ. 

Có một lần như vậy, tôi lỉnh ra sau bếp đứng một mình và thầm nghĩ: “Thế mà hôm nọ viết thư về bảo nhớ và thương các con lắm!”. 

Tôi thấy khi tả về cha tôi, mọi người thường vẽ nên hình ảnh một lão nông xuề xòa, nhưng chỉ có trong gia đình tôi mới biết rằng lão nông ấy đã dạy dỗ những đứa con gái của mình hết sức tỉ mỉ. 

Trong bữa ăn, ông dạy chúng tôi phải gắp rau như thế nào, chấm nhẹ vào bát nước chấm rồi đưa bát cơm hứng lấy, sau đó để miếng rau vào bát cơm rồi mới và vào miệng chứ không được đưa miếng rau từ bát nước chấm thẳng lên miệng. Khi chúng tôi lớn hơn, ông dạy cách cuốn nem, phải cuốn vừa tay, cái nem nhỏ thôi, nhiều lá, ít nhân thì khi ăn mới có độ giòn. 

Tôi nhớ có lần sau bữa ăn, tôi đưa khăn cho ông và nói: “Thầy lau mồm đi ạ”, ông sửa lại ngay: “Con phải nói là lau miệng”. Thế đấy. 

Chúng tôi được cha rèn cho từng lời ăn tiếng nói. Anh em chúng tôi chẳng thể nào quên được mỗi lần cha chuẩn bị đi Hà Nội, nào cặp bản thảo, nào túi quần áo, nào thức ăn đã được buộc gọn ghẽ trên chiếc xe đạp Liên Xô (cũng là thứ mua được từ nhuận bút của cuốn Bỉ vỏ được dịch sang tiếng Nga) đã được dựng bên tường nhà, ông gọi chúng tôi lại, đưa cho đứa lớn nhất khoảng 2-3 hoặc 5 hào gì đấy toàn bằng tiền xu để chúng tôi ở nhà mua quà. 

Quà hồi ấy chỉ là những cây mía tím chặt ngay trên ruộng nhà cụ Chương Long ở đầu xóm, hay là những quả sấu chín vàng nhà bà Lành mà chúng tôi phải tự trèo lên cây hái".

Bà Nguyễn Thị Mùi, vợ nhà văn Nguyên Hồng (năm 1943).
Bà Nguyễn Thị Mùi, vợ nhà văn Nguyên Hồng (năm 1943).

Ông Nguyễn Vũ Sơn, con trai thứ ba của nhà văn Nguyên Hồng, một giáo viên dạy chuyên toán nhớ lại: "Ngày tôi còn nhỏ, đã có năng khiếu ngoại ngữ và đàn hát. Những năm 65-66, tôi đã có bài và đoạt giải thưởng trên báo Toán học và tuổi trẻ rồi. Tôi mê âm nhạc, đặc biệt là thổi sáo, nên cha tôi khuyến khích lắm. 

Ông từng lấy nguyên mẫu là tôi cho vào tác phẩm Cửa biển, ở chi tiết con ông Chí Thái giỏi toán, yêu âm nhạc, thổi sáo hay. Tôi từng tham gia thổi sáo và được Huy chương bạc (không có huy chương vàng) tại Hội diễn Các trường nghệ thuật năm 1969. Sau này, thầy tôi (nhà văn Nguyên Hồng - PV) có nhuận bút thì mua cho tôi cây đàn ghi-ta cũ nhưng vì nhiều người mượn dùng nên cây đàn hỏng rất nhanh.

Thầy tôi là người hoàn toàn tôn trọng sở trường của các con và cũng quý sự học của các con. Mỗi thành tích của các con, ông đều rất sung sướng, tự thưởng cho mình một chén rượu. Có vẻ như ông tận dụng mọi cơ hội để “đền bù” cho các con. Mùa hè nào ông cũng cho chúng tôi “về Hà Nội chơi”. 

Thỉnh thoảng, chắc là những khi có nhuận bút, ông đưa chúng tôi đi ăn phở. Với chúng tôi hồi ấy, đó còn hơn cả sơn hào hải vị. Thậm chí, ông cho chúng tôi vào cả nhà hàng Phú Gia bên Bờ Hồ! Có một lần ông đưa hai anh đến Phú Gia nhưng ông chỉ gọi hai bát phở cho hai anh, còn ông thì ngồi nhìn các con ăn!" 

Khi anh Sơn kể lại chuyện này, thì hóa ra đứa nào cũng từng được bố đưa đến đây ăn phở, ăn bún. Không chỉ cho đi ăn, ông còn dẫn chúng tôi đi chơi vườn Bách Thảo, chỉ cho chúng tôi Bảo tàng Lịch sử, Văn Miếu, cổng Hoàng thành Thăng Long... 

Năm anh trai thứ hai tôi là Nguyễn Vũ Giang lên đường nhập ngũ, cha tôi đã đọc bài thơ Tiễn chân con và khóc: Con chúng ta năm xưa võng ru/ Mụ dạy cười mơ rồi nức nở/ Chim hót, nắng bừng cũng giật mình bỡ ngỡ/ Vú mẹ đêm ngày ấp ủ thịt măng tơ/ Con chúng ta làng xóm đặt tên/ Với mưa nắng sao trăng/ Với hoa thơm quả chín/ Với khoai sắn ruộng đồng/ Với thú rừng cá biển/ Với những chuyện thần kỳ với tên tuổi cha ông/... Con chúng ta đi/ Nghe Tổ quốc gọi tên ôm hôn cài sao vàng mé ngực/ Súng trao tay rồi trỏ: giặc thù trước mặt/ Bước qua xác chúng chiến thắng trở về (1963)".

Chị Thanh Thư cho biết, nhà văn Nguyên Hồng ngoài công việc viết văn, chỉ đắm đuối với các con. Hai ông bà sinh được 3 trai, 4 gái, nhà cửa lúc nào cũng sum vầy vui vẻ. Ông viết nhật ký đều đặn cho các con. 

Mùa hè năm 1970, khi các con chuẩn bị đi du học, ông đã viết trong nhật ký của mình: “20/7/1970 - Thứ hai, Giang Thư đi sớm. Thư đi tàu điện. Giang đi cái xe đạp nhỡ. Khi Thư đi tôi thấy buồn buồn. Có thể 26 này nó đã đi rồi. [...] Trong túi tôi chỉ còn đủ tiền tiêu kham khổ cho đến cuối tháng, nên chỉ mua cho Bé Diệu cái áo và không thể mua sắm cái gì cho Nhã”. 

Nhà văn Nguyên Hồng con khuyến khích các con học ngoại ngữ nên các con ông đều có năng khiếu và giỏi ngoại ngữ. 

Có lần, được tặng một cái cặp da rất đẹp, ông mang sang cho chị Nhã Nam và bảo: “Tặng cho con nhân dịp con đi học tiếng Anh”. Cái cặp ấy bây giờ chị Nhã Nam vẫn giữ để đựng các tài liệu quý của gia đình.

Theo chị Thư, mẹ chị mê cha chị “từ cái nhìn đầu tiên”. Bà bảo rất yêu cái dáng “luôn ngẩng cao đầu của bố mày”. Mẹ chị có vai trò như một trợ lý của nhà văn Nguyên Hồng. Bà không chỉ chép bản thảo cho ông mà còn giúp ông nhớ lại những tích xưa, nhiều bài thơ, hay nhiều sự kiện, bởi bà là một người ham đọc và có trí nhớ có lẽ còn tốt hơn cả ông. 

Nhà văn Nguyên Hồng.
Nhà văn Nguyên Hồng.

Chẳng hiểu sao mà những người nông dân quanh vùng lại “đồn” rằng: “Bà Duyên Hồng toàn chữa văn cho ông ấy đấy”. Cả gia đình đều rất thích thú với cái tên “Duyên Hồng” cũng như sự khẳng định hồn nhiên này!

Ông Nguyễn Vũ Sơn thì bảo: Các con đều ảnh hưởng tính cách của cha mẹ, vì thế đều là người điềm đạm, không ưa tranh đấu, bon chen. Ông kể: "Cha tôi coi việc viết văn thiêng liêng còn hơn cả một tôn giáo. Trước khi ngồi vào bàn viết, ông chuẩn bị rất cẩn thận, các bạn văn của cha tôi gọi đó là “dọn ổ đẻ”.

Ông trải chiếu ra nền nhà, cái bàn viết bằng gỗ nhỏ nhắn, chân thấp, được sắp xếp gọn gàng. Giấy viết, bút, nghiên mực (cái nghiên mực bằng thủy tinh do một người bạn nào đó bên Liên Xô tặng), mà mực thường là mực tím, đôi khi ông còn đặt thêm một quả khế hay quả ổi lên bàn. Mùa hè còn thêm một cái quạt nan nữa. 

Bao giờ ông cũng ngồi viết ở nhà ngang. Tất cả chúng tôi đều hiểu, khi ông đã ngồi vào bàn viết là không được gây tiếng động, không được làm bất cứ việc gì phiền đến ông. Nếu có khách đến thì người ra cổng là mẹ tôi. Bà sẽ tùy cơ ứng biến. Có thể bà sẽ phải nói dối là cha tôi không có nhà. Cái vùng đất trung du bán sơn địa ấy, mùa hè thì nóng hầm hập, mùa đông lại rét buốt. 

Cha tôi ngồi viết, mồ hôi chảy từng giọt, từng giọt vào mùa hè. Còn vào mùa đông thì ông phải quấn thêm cái chăn. Lạnh hơn nữa thì đốt củi sưởi. Chúng tôi không biết nhưng khi đọc nhật ký của ông, tôi thấy ông rất hay kêu đau đầu. Vậy mà ông chỉ lặng lẽ chịu đựng. Tiếc là ông mất sớm quá. 

Tôi vẫn nhớ, hôm ấy ông vừa đi chấm giải văn học ở Quảng Ninh về. Buổi sáng ông ra sửa lại cái tường bếp bị nứt, ông xuống suối lấy đất sét trát lại, rồi ông bị cảm lạnh và đột quỵ. Trước khi mất, ông chỉ kịp nói với mẹ tôi, là báo tin cho Hội Nhà văn biết...".

Trần Hoàng Thiên Kim

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.