Ngọn gió trên cánh đồng xanh

Thơ ca có thể nói, đã gắn liền với Đồng Đức Bốn như sinh mệnh, như định mệnh.

Đồng Đức Bốn đã xuất bản tất cả 6 tập thơ. Cứ mỗi lần một tập thơ in ra thì trong gia đình ông có một người qua đời. Tập thơ đầu “Con ngựa trắng và rừng quả đắng” (1992) in ra, thân phụ nhà thơ qua đời. Tập “Chăn trâu đốt lửa” (1993) in ra, con trai nhà thơ qua đời. tập “Trở về với mẹ ta thôi” (2000) in ra, em trai nhà thơ qua đời. Tập “Chuông chùa kêu trong mưa” (2002) in ra, cháu ngoại nhà thơ mất. Và rồi đến tập cuối cùng, “Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc” (2006) in ra thì chính ông giã biệt nhân gian. Thơ ca có thể nói, đã gắn liền với Đồng Đức Bốn như sinh mệnh, như định mệnh.

Nhà thơ Đồng Đức Bốn.
Nhà thơ Đồng Đức Bốn.

Ai cũng biết Đồng Đức Bốn nổi danh với lục bát. Rất nhiều câu thơ của ông đã tách ra khỏi thi phẩm để có một đời sống gần như độc lập. Lục bát Đồng Đức Bốn, cứ hai câu một, đã găm thẳng vào trí nhớ người đọc. Và ông có rất nhiều cặp hai câu xuất sắc như thế: Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm; Cánh hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm vào như không; Cầm lòng bán cái vàng đi/ Để mua những thứ nhiều khi không vàng; Tôi thường đi trên lưỡi dao/ Tay cầm cơn bão mang vào cho em.

Nhiều người đã đồng ý rằng, thơ Đồng Đức Bốn mạnh về câu hơn là mạnh về bài. Nhưng đã có lần, ông viết được một bài lục bát hoàn hảo trọn vẹn từ câu đầu đến câu cuối. Đó là bài “Cái đêm em ở với chồng”: Cái đêm em ở với chồng/ Để ai hóa đá bên sông đợi đò/ Cái đêm hôm ấy gió mùa/ Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan/ Cái đêm lành lạnh gió mùa/ Em trong chăn ấm có đùa với ai/ Ngang trời tiếng vạc mảnh mai/ Chém trăng đã đứt thành hai mảnh rồi/ Mảnh nào em để cho tôi/ Khi buồn chỉ đặt ngang môi làm kèn. Có thể thấy có hai mảng đề tài lớn trong thơ Đồng Đức Bốn, đó là đề tài tình yêu và nông thôn. Lục bát về thôn quê của Đồng Đức Bốn có nhiều chất liệu quen thuộc mà những tác giả đi trước viết về nông thôn đã từng dùng như: chợ chiều, trâu bò, đê, hoa dong riềng, bồ kết, giếng đình, trúc xinh… nhưng cũng có những chất liệu thật độc đáo chưa từng ai sử dụng, chẳng hạn quần bò, mũ cối: Nhà quê có mấy trai tơ/ Quần bò mũ cối giả vờ sang chơi (“Nhà quê”).

Lục bát về nông thôn của Đồng Đức Bốn có nhiều câu, nhiều cách diễn đạt mang đậm tính khẩu ngữ, vì thấp thoáng cái hài hước của dân gian. Một giọng điệu khác biệt rõ ràng đã được tạo ra, khác với nông thôn trong lục bát Nguyễn Duy và càng khác với nông thôn trong lục bát Nguyễn Bính: Lề đường trong những chiếc lều/ Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày/ Ngả nghiêng mấy lão thợ cày/ Rượu say vác cả cối chày nện nhau (“Chờ đợi tháng Ba”).

Nhưng Đồng Đức Bốn không chỉ có lục bát về nông thôn. Ông còn có nhiều bài, nhiều câu lục bát rất hay về phố phường, thành thị. Một loạt cái tên phố, tên đường, tên địa danh thuộc Hà Nội đã đi vào thơ ông như: Hồ Tây, Phố Huế, Bà Triệu, Chương Dương, Thụy Khuê, Tây Hồ, Ngọc Hà, Quán Thánh, ngõ Cấm Chỉ, ngõ Tạm Thương… Và trong rất nhiều những cái tên vừa kể ra ấy đã vụt thành những câu thơ ấn tượng, có khi như một xuất thần, là một nỗi bơ vơ lãng du ngơ ngẩn của chàng thi sĩ lãng tử: Bụi bay trắng dốc Ngọc Hà/ Có ai thương bụi như là tôi không (“Nhớ Thụy Khuê”), Xong rồi chẳng biết đi đâu/ Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương (“Đi Xích lô đường Bà Triệu”), Chiều mưa phố Huế một mình/ Biết đâu là chỗ ân tình đến chơi (“Chiều mưa phố Huế”).

Đồng Đức Bốn là một người quảng giao. Ông có rất nhiều bạn bè ở mọi miền, trong đó dĩ nhiên các bạn văn chương hay tề tựu ở chốn kinh kỳ. Nhiều bạn văn đã đi vào thơ của ông như Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Hưng, Nguyễn Huy Thiệp, Hữu Ước… Trong số đó, tôi đặc biệt thích bài “Uống rượu với Lê Kim Giao”: Uống rượu với Lê Kim Giao/ Một chiều ở góc vườn đào cuối năm/ Rượu chưa rót vẫn sủi tăm/ Rượu chưa uống đã say nằm lên nhau… Mây kéo xuống đường Thụy Khuê/ Ai đi thì vấp ai về thì trơn.

Nhà thơ Lê Kim Giao từng tâm sự với tôi về những ngày tháng hàn vi của Đồng Đức Bốn. Thuở vẫn còn nghèo, ông thường đi xích lô đến thăm Lê Kim Giao ở Thụy Khuê. Hai người bạn trải chiếu ra giữa sân để đàm đạo văn chương, quên ngày quên buổi. Hai người cùng biên tập thơ cho nhau. Và chính Đồng Đức Bốn đã viết một lời giới thiệu thật cảm động cho tuyển tập thơ nhạc của Lê Kim Giao những ngày tháng ấy…

Chân thành, nhiệt tình với bạn, Đồng Đức Bốn được yêu quý và đương nhiên cũng trở thành nhân vật trong tác phẩm của bạn bè. Nhưng có một người bạn thơ thật đặc biệt bởi ông cũng là một chính khách nổi tiếng lúc ấy: nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương đã dành tặng Đồng Đức Bốn một bài thơ mang tên “Bạn thơ” rất cảm động: Bạn chừ đóng gạch nơi nao/ Văn chương lấm láp vêu vao mặt người/ Bất ngờ bạn đến thăm tôi/ Gửi cho mấy tập ôi trời là thơ/ Câu dài câu ngắn ngẩn ngơ/ Những rơm với lửa những tơ với tình/ Một người hoang dại một mình/ Bơ vơ giữa phố mong thành thi nhân/ Lòng yêu, yêu đến trong ngần/ Đường xa thương vết chân trần bạn tôi/ Mong sao bạn bớt bùi ngùi/ Cố làm thơ nữa để rồi gặp nhau.

Đã có rất nhiều nhà thơ viết về cái chết, nhưng viết về cái chết bằng thơ lục bát thì Đồng Đức Bốn là người viết nhiều hơn cả.

Từ trong tập “Chăn trâu đốt lửa” đã xuất hiện hàng chục bài lục bát viết về cái chết với những câu thơ ám ảnh người đọc: Chết rồi tôi vẫn làm người/ Để nhận những nỗi đau đời em cho/ Chỉ mong ngày ấy mưa to/ Bước chân ai có ngại dò đường trơn (“Thơ viết gửi người tình khi tôi chết”), Suốt đời sống trên ngọn gai/ Chỉ khao khát chết xem ai thương mình (“Trả bút cho trời”), Mặc cho bụi mặc cho gai/ Mặc cho dao của những ai giết mình (“Uống rượu với Lê Kim Giao”), Trở về với mẹ ta thôi/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ (“Trở về với mẹ ta thôi”), Cuối cùng nếu phải ra đi/ Em xin gửi lại những gì cho anh… Anh dặn em bấy nhiêu lời/ Khi mang xuống mộ cùng người tri âm (“Kính gửi anh Điềm”). Cho đến những tháng ngày cuối cùng, lâm bệnh nặng, tự cảm thấy mình không còn nhiều thời gian nữa, Đồng Đức Bốn lại viết về cái chết một cách an nhiên, bình thản: Tôi giờ về với trăng sao/ Xin trời một trận mưa rào đón tôi (“Xin trời một trận mưa rào đón tôi”).

Cũng có khi, ông viết về cái chết trong một tâm thế quật cường, tranh đấu giành giật từng ngày từng giờ với bệnh tật, thể hiện niềm quyến luyến thiết tha với cuộc đời: Tôi không thể chết được đâu/ Bởi tôi còn khúc sông sâu nợ đò… Tôi còn nợ những người mong/ Bài thơ lục bát viết trong cõi buồn. (“Tôi không thể chết được đâu”). Nếu xếp tất cả những bài lục bát của Đồng Đức Bốn sang một bên, thì còn một bài thơ rất độc đáo nữa để chúng ta phải nhớ. Đó là bài “Em bỏ chồng về ở với tôi không”.

Nguyễn Huy Thiệp từng nhận xét: “Bài thơ hay vì do cái chí, cái khí uất, cái tình cảm nông nổi thực thà, thậm chí có phần du côn liều lĩnh đã toát ra khiến cho người ta xúc động”. Tác phẩm thực sự là một phá cách táo bạo, có phần nổi loạn của thi sĩ họ Đồng: Khi cuộc đời còn lắm bão nhiều giông/ Còn người tốt ít hơn kẻ xấu/ Trên đất rắn chân đi còn bật máu/ Em bỏ chồng về ở với tôi không… Cỏ nát rồi cỏ mới lại sinh sôi/ Hoa cứ gợi một mùi hương đằm thắm/ Và tôi tin một ngày gần lắm/ Em bỏ chồng về ở với tôi.

Có một bài lục bát xuất sắc của Đồng Đức Bốn chưa kịp đưa vào hợp tuyển ngàn trang “Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc”. Đó là bài “Mẹ ơi”, cũng là bài thơ cuối cùng của đời thơ Đồng Đức Bốn: “Bây giờ con chẳng có gì/ Cúi đầu lạy mẹ con đi về trời/ Chỉ xin mẹ một tiếng cười/ Và câu hát thuở mẹ ngồi ru con/ Chỉ mong trái đất vẫn tròn/ Biết đâu mẹ lại gặp con có ngày/ Cõi người nhiều nỗi đắng cay/ Cho nên Phật vẫn ngàn tay kêu cầu/ Cõi người còn lắm bể dâu/ Con lấy lục bát bắc cầu đi qua/ Tin rằng sông lắm phù sa/ Cho nên đời vẫn nở hoa bốn mùa/ Bây giờ trời đổ cơn mưa/ Xa xa đã tiếng chuông chùa gọi con”.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật đã có một nhận xét thật tinh tế về Đồng Đức Bốn, đó là “một hồn thơ lãng đãng phiêu du, như tiếng chim gù vọng lại của một mù sương không rõ ngày tháng năm nào”. Lục bát của Đồng Đức Bốn, như bài “Mẹ ơi” vừa dẫn, là dòng nước ngọt ngào ân tình chỉ cần đọc một lần đã thấm mãi vào hồn ta…

Nhiều người đã chọn lục bát, nhưng để được lục bát chọn thì không nhiều. Và Đồng Đức Bốn là một trong số ít những người được lục bát chọn, làm thơ như một bản năng trời cho. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong phần cuối một bài viết của ông đã gọi thơ Đồng Đức Bốn là ngọn gió trên cánh đồng xanh. Tôi tin ngọn gió trong lành ấy  còn thổi mãi…

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.