Ngoại thương thời nhà Nguyễn

Các phái đoàn phương Tây (chủ yếu là Anh, Pháp, Mỹ) đến nước ta vào nửa đầu thế kỷ 19 không khỏi trầm trồ về sự hấp dẫn, nhất là về lợi thế thương mại. Nhiều tàu thuyền dâng quốc thư cùng phẩm vật, mong đặt quan hệ giao thương.

"Những lợi thế thương mại tuyệt vời”

Năm 1822, bác sĩ John Crawfurd (người Anh) dẫn đầu phái đoàn đến Việt Nam. Trong báo cáo về tình trạng Vương quốc An Nam, ông đã đánh giá cao về lợi thế thương mại tuyệt vời của vùng đất này: “Hiện tại lợi ích thương mại là thứ duy nhất khiến các quốc gia châu Âu chú ý tới Cochin China”, “Vương quốc Cochin China, theo tôi nghĩ, xếp sau Xiêm về độ màu mỡ của đất đai và về sự đa dạng và dồi dào của các sản vật, tuy nhiên nơi đây lại sở hữu những lợi thế thương mại tuyệt vời, nhờ cả vị trí trung tâm của nó và nhờ những dòng sông mà tàu thuyền có thể di chuyển và vô số các cảng tuyệt hảo...”.

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Phái bộ Pháp - Tây Ban Nha đến Huế năm 1863. Nguồn: Việt Nam trong quá khứ qua tranh khắc Pháp.

Trong các mặt hàng ở nước ta, “đường” được người phương Tây coi là có giá trị nhất. “Giờ tôi xin liệt kê những sản phẩm chính của đất nước này, cùng với đánh giá về tầm quan trọng thương mại của từng món đối với chúng ta. Trong các mặt hàng, “đường” có giá trị nhất. Mặt hàng này được sản xuất rẻ mạt ở những tỉnh miền Trung Cochin China gốc, và cả việc trồng trọt lẫn sản xuất đều từ lao động bản địa chứ không phải bởi người Trung Quốc như ở Xiêm” (Crawfurd).

Bản tâu năm Minh Mạng 15 (1834) của Tuần phủ tỉnh Gia Định Hà Duy Phiên (thuộc khối tài liệu Châu bản triều Nguyễn, hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I) cũng đề cập đến mặt hàng này: Có một chiếc thuyền Tây dương, treo một lá cờ vuông ba màu xanh, trắng, đỏ đến đậu tại cửa biển. Viên thuyền trưởng đáp là thuyền nước Phú Lãng Sa. Biết nước ta có nhiều đường cát, muốn đến buôn bán. Tơ tằm thô là sản phẩm có giá trị lớn thứ hai và dường như loại tơ thô rất được ưa chuộng ở thị trường Pháp.

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Cụ Nguyễn Tri Phương, người đã tiếp xúc phái bộ Edmond Roberts khi còn giữ chức Viên ngoại. Nguồn: Võ Hương An.

Những sản phẩm mà triều Nguyễn thường nhập từ nước ngoài là lụa dệt, sứ, dược phẩm, lượng rất lớn giấy dành cho mục đích tín ngưỡng và trà thượng hạng từ Trung Quốc; tiêu, đinh hương, nhục đậu khấu, gỗ đàn hương và thiếc từ những nước thuộc quần đảo Mã Lai; thuốc phiện và diêm tiêu từ Ấn Độ; vải pô-pơ-lin và hàng vải sợi chất lượng tốt; súng, sắt rèn từ châu Âu.

“Làn gió mới” phương Tây và thái độ của triều Nguyễn

Nước Hồng Mao (nước Anh) nhiều lần sai sứ đến nước ta dâng phương vật, dâng biểu xin thông thương, xin cho người nước ấy ở lại Đà Nẵng, đi lại buôn bán. Theo tường thuật của phái đoàn Roberts đến Huế năm 1804, đức vua [Gia Long] chấp nhận tàu Anh như tàu các nước khác, như đã làm từ trước đến nay, để nói rằng ông sẽ buôn bán với người Anh như vẫn làm nhưng từ chối mối quan hệ chặt chẽ hơn.

Theo ghi chép của Quốc Sử quán trong “Đại Nam thực lục”, mùa đông năm 1832, Quốc trưởng nước Nhã Di Lý (nước Mỹ) sai người dâng quốc thư “xin giao hiếu và thông thương”. Vua Minh Mạng bảo: “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Từ nay, nếu có đến buôn bán thì cho đỗ ở Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt quá kỷ luật, rồi giao thư cho họ mà bảo họ đi”.

Năm 1836, tàu Mỹ trở lại Việt Nam, thả neo ở vịnh Trà Sơn, có quốc thư mong thiết lập quan hệ ngoại giao và buôn bán. Trí Phú thưa: “Họ là người nước ngoài, tình ý giả dối cũng chưa biết chừng. Thần tưởng hãy cho họ vào Kinh, lưu ở công quán Thương bạc, phái người đến khoản đãi để thăm dò cái ý họ đến”. Thị lang Nội các Hoàng Quýnh tâu: “Nước họ xảo quyệt muôn mặt, nên cự tuyệt đi. Một khi dung nạp sợ để lo cho đời sau...”. Vua nói: “Họ xa cách trùng dương trên 40.000 dặm, nay ngưỡng mộ uy đức triều đình mà đến, sao lại cự tuyệt, chẳng hóa tỏ cho người ta thấy mình không rộng rãi ư?”. Vua liền sai Đào Trí Phú cùng với Thị lang bộ Lại Lê Bá Tú, làm thuộc viên Thương bạc đến tận nơi úy lạo thăm hỏi.

Tàu Pháp cũng nhiều lần vào cửa biển Đà Nẵng. Châu bản triều Nguyễn ghi nhận việc thương thuyền Pháp thường mang theo hàng hóa là những thứ do triều đình đặt mua như súng điểu thương, đá lửa… nhưng vua Minh Mạng từ chối hiệp ước giao thương, như ghi chép của Michel Đức Chaigneau trong “Hồi ức về Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX”: “Trẫm cũng có những ý nghĩ tình cảm như đức vua nước Pháp và trẫm cũng ước muốn luôn có được giao hảo hữu nghị với đức vua. Nhưng một hiệp ước về giao thương mà để làm gì? Nước Pháp quá xa xôi với vương quốc của ta để thần dân của ta có thể đi sang bên đó buôn bán với người Pháp. Bao nhiêu biển cả ngăn cách hai đất nước, với lại xứ ta chẳng có thuyền bè nào có thể vượt qua chừng đó biển cả đại dương”.

Cẩn thận nhưng không hoàn toàn cự tuyệt

Không “tuyệt giao” với những gì liên quan đến phương Tây, các vua triều Nguyễn từng gửi các phái bộ đi xem xét tình hình các nước. Năm Minh Mạng 20 (1839), nhà vua nghe nói Đại Tây Dương vốn có tiếng là nơi đô hội, sai Tư vụ Trần Viết Xương, Thư lại Tôn Thất Thường mang theo người thông ngôn cùng ngồi thuyền Thụy Long đến Giang Lưu Ba, rồi chuyển đáp nhờ sang thuyền Tây Dương mà đi, năm sau thì về. Phàm đến nơi nào, mắt trông thấy, tai nghe thấy cái gì đều ghi tường tận về tâu, để biết rõ phong vật phương xa (theo ghi chép của Quốc Sử quán trong “Đại Nam thực lục”).

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Vua Minh Mạng qua nét vẽ của người phương Tây.

Vua Minh Mạng phái thuyền công đi thao diễn, nhân đem vật phẩm xếp trong thuyền, đến các nước Tây dương trao đổi lấy các thứ như súng điểu thương, thuốc súng, vải vóc… Châu bản triều Minh Mạng còn thống kê cụ thể số súng điểu thương, đá lửa mà nhà nước mua từ thuyền buôn phương Tây mỗi khi họ đến Đà Nẵng, như bản tâu của Cai bạ dinh Quảng Nam năm 1825, số hàng nhà nước mua của thuyền buôn Ba Lãng Sa (Pháp) gồm 1.080 cây súng điểu thương, 40 khối đá lửa.

Dưới triều Tự Đức, nhà vua định lại lệ phái thuyền đến các nước thông thương. Trước đó, thời Minh Mạng, Thiệu Trị thường phái thuyền ra nước ngoài mua hàng hóa và dò xét, về sau hoạt động này dừng lại nên không hiểu hết được tình hình các nước. Vua Tự Đức bèn sai viện bạc cùng các quan bộ Hộ, bộ Công bàn bạc cho thỏa đáng. Sách “Đại Nam thực lục” chép, nghị dâng lên với nội dung: “Trích lấy 1 chiếc tàu thủy, 1 thuyền bọc đồng, chuyên sung việc phái ra nước ngoài, các hàng hóa Nội vụ, Vũ khố trích phát ra, còn bộ Hộ tư cho các tỉnh đặt mua hàng hóa sản vật, tỉnh lớn 40.000 - 50.000, tỉnh vừa và nhỏ 20.000 - 30.000, hằng năm đến tháng 11 chứa sẵn ở kho các cửa biển trở vào Nam do Đà Nẵng, Thi Nại, trở ra Bắc do Hải Lãng, Cấm Giang, Biện Sơn, đến tháng 12, phái 2 viên khoa đạo đi xem xét, giao cho phái viên xếp vào thuyền vận tải trên dưới 20.000 quan, nếu chưa đủ cho đáp chở hàng của khách. Về bán ra, mỗi 100.000 quan, tính lợi được 20.000 quan, trích ra 1.000 quan để chia thưởng, lỗ vốn do phái viên thuyền ấy phải bồi thường. Nếu thuyền ấy ngộ có phái đi việc khác, thì do các tỉnh sức cho người lái buôn nước Thanh thuê tàu nước Tây nhận chở, phái viên đáp đi theo để bán, cho hàng hóa không ứ đọng”.

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Công quán dưới cái nhìn của người phương Tây.

Tàu thuyền phương Tây khi đến nước ta mà không bán được hàng vì không hợp với thị trường hoặc gặp gió bão được vua triều Nguyễn cho cứu hộ và miễn thuế. Đôi khi thuyền buôn ngoại quốc cũng lợi dụng chính sách nhân đạo này của nhà vua để được miễn thuế, như năm 1816, Quản Tàu vụ là Nguyễn Đức Xuyên tâu nói rằng có thuyền buôn nước ngoài nhập khẩu, nhiều thuyền giả mạo thuyền bài để mưu giảm thuế, cũng có thuyền giấu hàng hóa, nói dối là bị bão để cầu miễn thuế. Vua bèn sai quan địa phương xét hỏi rất nghiêm, thất sát thì có tội.

Bên cạnh đó, một số nhà Nho còn dâng bản điều trần đề nghị “giao hảo” với phương Tây. Châu bản năm Tự Đức 23 (1870) cho biết, Nguyễn Trường Tộ trình kế ngoại giao với phương Tây, trong đó có xin “nên nhanh chóng giao hảo với người Anh”.

Dưới thời Gia Long, cơ quan Tào vụ được thành lập, lo việc giao dịch với nước ngoài. Đến thời Minh Mạng, Tào vụ được đổi thành Thương bạc sự vụ. Năm Minh Mạng 13 (1832), vua sáp nhập Thương bạc vào Bộ Hộ, chỉ chuyên về ngoại thương.

Vua Gia Long còn cho dựng nhà Công quán làm nơi khoản tiếp sứ giả phương xa. Đến triều Minh Mạng, vua đổi gọi Công quán làm Tứ dịch quán. Cơ quan chuyên đào tạo thông dịch viên của triều đình là Ty Hành Nhân cũng được dọn về cùng nơi này để tiện làm việc.

Nơi thường xuyên đón tiếp tàu thuyền các nước

Châu bản triều Nguyễn ghi nhận nửa đầu thế kỷ 19, cửa biển Đà Nẵng là nơi thường xuyên đón tiếp tàu thuyền các nước (chủ yếu là Anh, Pháp, Mỹ) đến đặt quan hệ ngoại giao, thương mại. Chẳng hạn, ngày 13/9 năm Thiệu Trị 7 (1847), Thự Tổng đốc Nam Ngãi tâu rằng ngày mồng 1/9 năm đó, hai chiếc tàu của nước Anh vào tấn Đà Nẵng. Theo thuyền trưởng, họ được Quốc vương phái đến trình quốc thư và dâng cống phẩm, mong hòa hảo thông thương.

Vua Minh Mạng lệnh cho các tấn thủ cửa biển phía nam Kinh đô rằng, tàu thuyền phương Tây cập cửa biển Đà Nẵng với hành trạng ra sao, đến ngày nào, mục đích làm gì… đều phải tâu trình rõ ràng.

Sự lưu tâm phòng thủ của triều đình càng lớn khi nhận ra phương Tây nhòm ngó nước ta ngày càng nhiều. Vua Minh Mạng đã ban Dụ, coi như kim chỉ nam để thi hành: “Đà Nẵng là nơi rất xung yếu ở chỗ bờ biển, tàu Tây dương đi lại tất phải qua đấy”. Vì vậy, theo định lệ, “phàm thuyền buôn Tây Dương đến buôn bán, chỉ được đến cửa biển Đà Nẵng mà thôi”.

Có thể thấy các vua triều Nguyễn rất quan tâm đến Đà Nẵng, nhưng vì lý do an ninh nhiều hơn là kinh tế.

Vậy là, nửa đầu thế kỷ 19, các vua triều Nguyễn về cơ bản đều nhất quán chính sách, theo cách nói ví von của nhà nghiên cứu Võ Hương An là trong sở vườn nhà Việt Nam, người phương Tây muốn đến thăm hỏi hay buôn bán đều được, nhưng chỉ được vào ra một cửa cho tiện bề kiểm soát và chỉ được vào đến cổng chứ không được vào sâu trong sân hay sục sạo trong vườn; vào trong nhà thì cấm tuyệt.

Hồng Nhung

Các tin khác

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Ngày 22/8/1954, 16 người rời Hải Phòng. Họ xuống tàu ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm 125 của Pháp, nhìn bờ biển Việt Nam nhạt dần phía sau mạn tàu. Một tuần trên biển. Rồi đảo Okinawa, nơi nhân viên tình báo Mỹ chờ sẵn để khám sức khỏe, lấy lý lịch, loại bớt 3 người không đủ tiêu chuẩn. Số còn lại lên máy bay chở thẳng đến đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương.

Những hồ sơ cùng được giải mã

Những hồ sơ cùng được giải mã

Trung tuần tháng 3/2025, Mỹ đã công bố những tài liệu cuối cùng liên quan đến vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy tại Dallas năm 1963. Nhân sự kiện trên, tạp chí Chuyện xứ người (ODC) Mỹ cập nhật nhiều hồ sơ còn “thú vị hơn” cả vụ ám sát JKF đã được CIA giải mã “toàn tập”.

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Vừa tiếp giáp với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước đó là TP Hồ Chí Minh, lại có gần 369km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên Tây Ninh luôn tiềm ẩn phức tạp do các đối tượng tội phạm luôn rình rập tuồn ma túy qua biên giới để tiêu thụ tại chỗ và trung chuyển đến các tỉnh thành lân cận tiêu thụ.

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Những thi thể trong vườn táo nhà Bender…

Mùa xuân năm 1873, một nhóm người dân ở hạt Labette, Kansas, kéo đến khu đất bỏ hoang của gia đình Bender, mang theo cuốc, xẻng và những dự cảm chẳng lành. Họ xới tung mảnh vườn táo phía sau căn nhà gỗ bỏ hoang, nơi gia đình Bender từng mở quán trọ ven đường, đón khách vào ăn uống, nghỉ ngơi rồi biến mất.

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

“Dùng người và phương tiện của địch để đánh lại địch” (bài cuối)

Cách mạng Tháng Tám thành công, lực lượng an ninh, dù mới thành lập, nhưng đã liên tiếp lập nhiều chiến công. Không chỉ trấn áp, triệt phá, xóa sổ hàng chục ổ nhóm, băng đảng, tổ chức câu kết với thực dân Pháp hoạt động chống phá cách mạng, lực lượng An ninh nói chung và lực lượng phản gián nói riêng đã tương kế tựu kế, sử dụng điệp viên do Pháp huấn luyện để đánh lại chính tổ chức của chúng.

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Những chuyên án lật ngược thế cờ (bài 2)

Như bài trước chúng tôi đã đề cập, lợi dụng tình hình cách mạng mới thành lập còn non trẻ, bọn phản cách mạng trong nước đua nhau ngóc đầu dậy chống phá chính quyền. Hàng chục tổ chức và đảng phái phản động vừa có thực lực, vừa được các đội quân xâm lược nuôi dưỡng, chỉ đạo, âm mưu cướp chính quyền, trong đó phải kể đến các cá nhân, tổ chức làm việc cho địch nhưng đã tìm cách chui vào nội bộ của ta để hoạt động gián điệp.

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Chiến công phá vụ án nhà số 7 phố Ôn Như Hầu (bài 1)

Vụ án số 7 phố Ôn Như Hầu ngày 12/7/1946 là chiến công xuất sắc, minh chứng tiêu biểu nhất về những đóng góp của lực lượng An ninh trong những thời khắc lịch sử giành và giữ chính quyền non trẻ của dân tộc, là mốc son chói lọi thể hiện vai trò hết sức to lớn của lực lượng An ninh nhân dân.

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Bí mật về đội cận vệ trinh nữ của vua Xiêm

Huyền thoại về các nữ chiến binh Amazon dũng mãnh đã trở thành một phần của văn hóa thế giới từ thời cổ đại. Những câu chuyện này không ngừng kích thích trí tưởng tượng của các nhà nghiên cứu và giới nghệ sĩ, là tâm điểm của các cuộc tranh luận học thuật. Tuy nhiên, ẩn sau các truyền thuyết nổi tiếng là một trang sử hoàn toàn có thật. Đó là đội nữ cận vệ đã hàng thế kỷ bảo vệ các vị vua Xiêm La - tiền thân của Thái Lan ngày nay.

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Vụ bê bối tên lửa Titan của Mỹ năm 1980

Trong số những sự cố tên lửa tai hại vì sơ suất của con người trong lịch sử khí tài của nhân loại, có sự cố vũ khí hạt nhân ở Damascus năm 1980. Rất may, chưa gây nổ đầu đạn, nếu không sẽ là “thảm họa Chernobyl nước Mỹ”.

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.