Ngoại thương thời nhà Nguyễn

Các phái đoàn phương Tây (chủ yếu là Anh, Pháp, Mỹ) đến nước ta vào nửa đầu thế kỷ 19 không khỏi trầm trồ về sự hấp dẫn, nhất là về lợi thế thương mại. Nhiều tàu thuyền dâng quốc thư cùng phẩm vật, mong đặt quan hệ giao thương.

"Những lợi thế thương mại tuyệt vời”

Năm 1822, bác sĩ John Crawfurd (người Anh) dẫn đầu phái đoàn đến Việt Nam. Trong báo cáo về tình trạng Vương quốc An Nam, ông đã đánh giá cao về lợi thế thương mại tuyệt vời của vùng đất này: “Hiện tại lợi ích thương mại là thứ duy nhất khiến các quốc gia châu Âu chú ý tới Cochin China”, “Vương quốc Cochin China, theo tôi nghĩ, xếp sau Xiêm về độ màu mỡ của đất đai và về sự đa dạng và dồi dào của các sản vật, tuy nhiên nơi đây lại sở hữu những lợi thế thương mại tuyệt vời, nhờ cả vị trí trung tâm của nó và nhờ những dòng sông mà tàu thuyền có thể di chuyển và vô số các cảng tuyệt hảo...”.

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Phái bộ Pháp - Tây Ban Nha đến Huế năm 1863. Nguồn: Việt Nam trong quá khứ qua tranh khắc Pháp.

Trong các mặt hàng ở nước ta, “đường” được người phương Tây coi là có giá trị nhất. “Giờ tôi xin liệt kê những sản phẩm chính của đất nước này, cùng với đánh giá về tầm quan trọng thương mại của từng món đối với chúng ta. Trong các mặt hàng, “đường” có giá trị nhất. Mặt hàng này được sản xuất rẻ mạt ở những tỉnh miền Trung Cochin China gốc, và cả việc trồng trọt lẫn sản xuất đều từ lao động bản địa chứ không phải bởi người Trung Quốc như ở Xiêm” (Crawfurd).

Bản tâu năm Minh Mạng 15 (1834) của Tuần phủ tỉnh Gia Định Hà Duy Phiên (thuộc khối tài liệu Châu bản triều Nguyễn, hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I) cũng đề cập đến mặt hàng này: Có một chiếc thuyền Tây dương, treo một lá cờ vuông ba màu xanh, trắng, đỏ đến đậu tại cửa biển. Viên thuyền trưởng đáp là thuyền nước Phú Lãng Sa. Biết nước ta có nhiều đường cát, muốn đến buôn bán. Tơ tằm thô là sản phẩm có giá trị lớn thứ hai và dường như loại tơ thô rất được ưa chuộng ở thị trường Pháp.

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Cụ Nguyễn Tri Phương, người đã tiếp xúc phái bộ Edmond Roberts khi còn giữ chức Viên ngoại. Nguồn: Võ Hương An.

Những sản phẩm mà triều Nguyễn thường nhập từ nước ngoài là lụa dệt, sứ, dược phẩm, lượng rất lớn giấy dành cho mục đích tín ngưỡng và trà thượng hạng từ Trung Quốc; tiêu, đinh hương, nhục đậu khấu, gỗ đàn hương và thiếc từ những nước thuộc quần đảo Mã Lai; thuốc phiện và diêm tiêu từ Ấn Độ; vải pô-pơ-lin và hàng vải sợi chất lượng tốt; súng, sắt rèn từ châu Âu.

“Làn gió mới” phương Tây và thái độ của triều Nguyễn

Nước Hồng Mao (nước Anh) nhiều lần sai sứ đến nước ta dâng phương vật, dâng biểu xin thông thương, xin cho người nước ấy ở lại Đà Nẵng, đi lại buôn bán. Theo tường thuật của phái đoàn Roberts đến Huế năm 1804, đức vua [Gia Long] chấp nhận tàu Anh như tàu các nước khác, như đã làm từ trước đến nay, để nói rằng ông sẽ buôn bán với người Anh như vẫn làm nhưng từ chối mối quan hệ chặt chẽ hơn.

Theo ghi chép của Quốc Sử quán trong “Đại Nam thực lục”, mùa đông năm 1832, Quốc trưởng nước Nhã Di Lý (nước Mỹ) sai người dâng quốc thư “xin giao hiếu và thông thương”. Vua Minh Mạng bảo: “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Từ nay, nếu có đến buôn bán thì cho đỗ ở Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt quá kỷ luật, rồi giao thư cho họ mà bảo họ đi”.

Năm 1836, tàu Mỹ trở lại Việt Nam, thả neo ở vịnh Trà Sơn, có quốc thư mong thiết lập quan hệ ngoại giao và buôn bán. Trí Phú thưa: “Họ là người nước ngoài, tình ý giả dối cũng chưa biết chừng. Thần tưởng hãy cho họ vào Kinh, lưu ở công quán Thương bạc, phái người đến khoản đãi để thăm dò cái ý họ đến”. Thị lang Nội các Hoàng Quýnh tâu: “Nước họ xảo quyệt muôn mặt, nên cự tuyệt đi. Một khi dung nạp sợ để lo cho đời sau...”. Vua nói: “Họ xa cách trùng dương trên 40.000 dặm, nay ngưỡng mộ uy đức triều đình mà đến, sao lại cự tuyệt, chẳng hóa tỏ cho người ta thấy mình không rộng rãi ư?”. Vua liền sai Đào Trí Phú cùng với Thị lang bộ Lại Lê Bá Tú, làm thuộc viên Thương bạc đến tận nơi úy lạo thăm hỏi.

Tàu Pháp cũng nhiều lần vào cửa biển Đà Nẵng. Châu bản triều Nguyễn ghi nhận việc thương thuyền Pháp thường mang theo hàng hóa là những thứ do triều đình đặt mua như súng điểu thương, đá lửa… nhưng vua Minh Mạng từ chối hiệp ước giao thương, như ghi chép của Michel Đức Chaigneau trong “Hồi ức về Kinh thành Huế đầu thế kỷ XIX”: “Trẫm cũng có những ý nghĩ tình cảm như đức vua nước Pháp và trẫm cũng ước muốn luôn có được giao hảo hữu nghị với đức vua. Nhưng một hiệp ước về giao thương mà để làm gì? Nước Pháp quá xa xôi với vương quốc của ta để thần dân của ta có thể đi sang bên đó buôn bán với người Pháp. Bao nhiêu biển cả ngăn cách hai đất nước, với lại xứ ta chẳng có thuyền bè nào có thể vượt qua chừng đó biển cả đại dương”.

Cẩn thận nhưng không hoàn toàn cự tuyệt

Không “tuyệt giao” với những gì liên quan đến phương Tây, các vua triều Nguyễn từng gửi các phái bộ đi xem xét tình hình các nước. Năm Minh Mạng 20 (1839), nhà vua nghe nói Đại Tây Dương vốn có tiếng là nơi đô hội, sai Tư vụ Trần Viết Xương, Thư lại Tôn Thất Thường mang theo người thông ngôn cùng ngồi thuyền Thụy Long đến Giang Lưu Ba, rồi chuyển đáp nhờ sang thuyền Tây Dương mà đi, năm sau thì về. Phàm đến nơi nào, mắt trông thấy, tai nghe thấy cái gì đều ghi tường tận về tâu, để biết rõ phong vật phương xa (theo ghi chép của Quốc Sử quán trong “Đại Nam thực lục”).

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Vua Minh Mạng qua nét vẽ của người phương Tây.

Vua Minh Mạng phái thuyền công đi thao diễn, nhân đem vật phẩm xếp trong thuyền, đến các nước Tây dương trao đổi lấy các thứ như súng điểu thương, thuốc súng, vải vóc… Châu bản triều Minh Mạng còn thống kê cụ thể số súng điểu thương, đá lửa mà nhà nước mua từ thuyền buôn phương Tây mỗi khi họ đến Đà Nẵng, như bản tâu của Cai bạ dinh Quảng Nam năm 1825, số hàng nhà nước mua của thuyền buôn Ba Lãng Sa (Pháp) gồm 1.080 cây súng điểu thương, 40 khối đá lửa.

Dưới triều Tự Đức, nhà vua định lại lệ phái thuyền đến các nước thông thương. Trước đó, thời Minh Mạng, Thiệu Trị thường phái thuyền ra nước ngoài mua hàng hóa và dò xét, về sau hoạt động này dừng lại nên không hiểu hết được tình hình các nước. Vua Tự Đức bèn sai viện bạc cùng các quan bộ Hộ, bộ Công bàn bạc cho thỏa đáng. Sách “Đại Nam thực lục” chép, nghị dâng lên với nội dung: “Trích lấy 1 chiếc tàu thủy, 1 thuyền bọc đồng, chuyên sung việc phái ra nước ngoài, các hàng hóa Nội vụ, Vũ khố trích phát ra, còn bộ Hộ tư cho các tỉnh đặt mua hàng hóa sản vật, tỉnh lớn 40.000 - 50.000, tỉnh vừa và nhỏ 20.000 - 30.000, hằng năm đến tháng 11 chứa sẵn ở kho các cửa biển trở vào Nam do Đà Nẵng, Thi Nại, trở ra Bắc do Hải Lãng, Cấm Giang, Biện Sơn, đến tháng 12, phái 2 viên khoa đạo đi xem xét, giao cho phái viên xếp vào thuyền vận tải trên dưới 20.000 quan, nếu chưa đủ cho đáp chở hàng của khách. Về bán ra, mỗi 100.000 quan, tính lợi được 20.000 quan, trích ra 1.000 quan để chia thưởng, lỗ vốn do phái viên thuyền ấy phải bồi thường. Nếu thuyền ấy ngộ có phái đi việc khác, thì do các tỉnh sức cho người lái buôn nước Thanh thuê tàu nước Tây nhận chở, phái viên đáp đi theo để bán, cho hàng hóa không ứ đọng”.

Ngoại thương thời nhà Nguyễn -0
Công quán dưới cái nhìn của người phương Tây.

Tàu thuyền phương Tây khi đến nước ta mà không bán được hàng vì không hợp với thị trường hoặc gặp gió bão được vua triều Nguyễn cho cứu hộ và miễn thuế. Đôi khi thuyền buôn ngoại quốc cũng lợi dụng chính sách nhân đạo này của nhà vua để được miễn thuế, như năm 1816, Quản Tàu vụ là Nguyễn Đức Xuyên tâu nói rằng có thuyền buôn nước ngoài nhập khẩu, nhiều thuyền giả mạo thuyền bài để mưu giảm thuế, cũng có thuyền giấu hàng hóa, nói dối là bị bão để cầu miễn thuế. Vua bèn sai quan địa phương xét hỏi rất nghiêm, thất sát thì có tội.

Bên cạnh đó, một số nhà Nho còn dâng bản điều trần đề nghị “giao hảo” với phương Tây. Châu bản năm Tự Đức 23 (1870) cho biết, Nguyễn Trường Tộ trình kế ngoại giao với phương Tây, trong đó có xin “nên nhanh chóng giao hảo với người Anh”.

Dưới thời Gia Long, cơ quan Tào vụ được thành lập, lo việc giao dịch với nước ngoài. Đến thời Minh Mạng, Tào vụ được đổi thành Thương bạc sự vụ. Năm Minh Mạng 13 (1832), vua sáp nhập Thương bạc vào Bộ Hộ, chỉ chuyên về ngoại thương.

Vua Gia Long còn cho dựng nhà Công quán làm nơi khoản tiếp sứ giả phương xa. Đến triều Minh Mạng, vua đổi gọi Công quán làm Tứ dịch quán. Cơ quan chuyên đào tạo thông dịch viên của triều đình là Ty Hành Nhân cũng được dọn về cùng nơi này để tiện làm việc.

Nơi thường xuyên đón tiếp tàu thuyền các nước

Châu bản triều Nguyễn ghi nhận nửa đầu thế kỷ 19, cửa biển Đà Nẵng là nơi thường xuyên đón tiếp tàu thuyền các nước (chủ yếu là Anh, Pháp, Mỹ) đến đặt quan hệ ngoại giao, thương mại. Chẳng hạn, ngày 13/9 năm Thiệu Trị 7 (1847), Thự Tổng đốc Nam Ngãi tâu rằng ngày mồng 1/9 năm đó, hai chiếc tàu của nước Anh vào tấn Đà Nẵng. Theo thuyền trưởng, họ được Quốc vương phái đến trình quốc thư và dâng cống phẩm, mong hòa hảo thông thương.

Vua Minh Mạng lệnh cho các tấn thủ cửa biển phía nam Kinh đô rằng, tàu thuyền phương Tây cập cửa biển Đà Nẵng với hành trạng ra sao, đến ngày nào, mục đích làm gì… đều phải tâu trình rõ ràng.

Sự lưu tâm phòng thủ của triều đình càng lớn khi nhận ra phương Tây nhòm ngó nước ta ngày càng nhiều. Vua Minh Mạng đã ban Dụ, coi như kim chỉ nam để thi hành: “Đà Nẵng là nơi rất xung yếu ở chỗ bờ biển, tàu Tây dương đi lại tất phải qua đấy”. Vì vậy, theo định lệ, “phàm thuyền buôn Tây Dương đến buôn bán, chỉ được đến cửa biển Đà Nẵng mà thôi”.

Có thể thấy các vua triều Nguyễn rất quan tâm đến Đà Nẵng, nhưng vì lý do an ninh nhiều hơn là kinh tế.

Vậy là, nửa đầu thế kỷ 19, các vua triều Nguyễn về cơ bản đều nhất quán chính sách, theo cách nói ví von của nhà nghiên cứu Võ Hương An là trong sở vườn nhà Việt Nam, người phương Tây muốn đến thăm hỏi hay buôn bán đều được, nhưng chỉ được vào ra một cửa cho tiện bề kiểm soát và chỉ được vào đến cổng chứ không được vào sâu trong sân hay sục sạo trong vườn; vào trong nhà thì cấm tuyệt.

Hồng Nhung

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.