Mật mã ngoại giao Toki của Nhật Bản thời Thế chiến II

Trong Thế chiến II, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã dùng vài hệ thống mật mã nhằm bảo vệ những thông tin liên lạc của mình không bị nghe trộm. Năm 1939, máy mật mã Tím đã được giới thiệu đến các đại sứ quán quan trọng, tuy nhiên không phải tất cả các trạm này đều được trang bị máy, vì thế mật mã viết tay tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong thời kỳ tiền chiến và ngay trong chiến tranh. Những hệ thống mật mã viết tay chính là những mã chuyển đổi.

Những hệ thống mật mã chủ chốt

Hệ thống ngoại giao đầu tiên của Nhật Bản được nhận diện bởi các nhà phá mã của Hoa Kỳ khi nó được giới thiệu trong Thế chiến II, đó là một loại mã ghép đơn giản được ký hiệu là “JA”. Có 2 bảng mã: (1) Sự kết hợp các tổ hợp nguyên âm phụ âm; (2) Các phụ âm – nguyên âm. Những hệ thống tương tự đáng lưu ý là những bảng mã 4 chữ cái đã được giới thiệu trong thập niên 1920. Những mã chưa được giải mã này rất dễ giải quyết bằng cách tận dụng sự lặp lại của các nhóm mã của những từ và cụm từ được dùng phổ biến nhất. Những nhà phá mã Mỹ đã giải được các mã này, do đó mà biết được chi tiết về chính sách đối ngoại của Nhật Bản.

4.jpg -0
Một thông điệp mật mã TOKI của Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong Thế chiến II. Ảnh nguồn: CMIC.

Trong thập niên 1930, Bộ Ngoại giao Nhật đã nâng cấp bảo mật thông tin liên lạc của mình bằng cách tung ra 2 máy mật mã Đỏ và Tím bằng cách tạo mã của chúng chủ yếu thông qua những hệ thống chuyển vị. Mã chuyển vị của Nhật Bản từ J-16 sang J-19. Mã J-19 có các bảng mã ghép và 4 chữ cái tương tự với loại mà trước đó được Bộ Ngoại giao Nhật sử dụng. Theo nghiên cứu của NSA thì mật mã J-19 đã được sử dụng từ ngày 21-6-1941 đến 15-8-1943.

Về mặt an ninh thì mã J-19 FUJI và các loại mã tương tự J-16 MATSU, J-18 SAKURA (dùng trong thời kỳ 1940-1941) có mức độ tinh vi hơn các hệ thống ngoại giao cũ của Nhật Bản. Họ có gần gấp đôi số nhóm mã với khoảng 1.600, chúng bao gồm 676 mục ghép, ngoài ra còn có một bảng 4 chữ cái với 900 mục từ. Những mã này được gắn kết bởi sự chuyển vị cột dựa trên một cái khóa số, và có một khuôn tô được dùng để tăng cường bảo mật. Sự hiện diện của các “lồng trống” trong hộp đã tạo ra độ dài không đều cho mỗi cột của văn bản.

Mùa hè năm 1943, mật mã J-19 FUJI được thay thế bằng 3 hệ thống mới. Các mã chuyển vị TOKI và GEAM, cùng mật mã “Sách Mã số 1”. Hệ thống TOKI được dùng trong giai đoạn 1943-1945, và tương tự như mã J-19 trong đó mã chuyển vị nằm trên một khuôn tô. Hệ thống TOKI được dùng bởi các đại sứ quán và lãnh sự quán Nhật Bản tại Châu Âu. Toki được giải mã bởi những nhà phá mã Anh - Mỹ và Đức.

Khai thác mật mã TOKI của quân Đồng minh

Hệ thống mã chuyển/ hoán vị TOKI khác với mã tiền nhiệm J-19 FUJI ở chỗ nó được dùng bởi các đơn vị Châu Âu, trong khi đó J-19 được dùng cho các nhiệm vụ ngoại giao Nhật trên toàn cầu. TOKI được cấu tạo từ 2 nhóm mã có 2 và 3 chữ cái trong khi J-19 có 2 và 4 nhóm chữ cái. Các nhóm mã được sắp xếp không có hệ thống do đó làm cho việc phá mã trở nên khó khăn hơn. Các thông điệp TOKI được hình thành bằng cách dùng khuôn tô cùng các khóa chuyển vị mà có thể thay đổi ngay trong cùng thông điệp.

Cụ thể là chỉ báo của thông điệp được thiết kế thành 3 khuôn tô và 3 khóa số được dùng trong mã hóa. Mỗi bảng có 250 chữ cái (25x10) nhưng trong đó có 50 chữ đã bị gạch bỏ theo một hệ thống cụ thể, còn lại 200 chữ cái có thể được viết vào. Nếu thông điệp dài hơn thì khi đó khuôn tô và khóa số sẽ được chỉ định bởi chỉ số được dùng. Buổi ban đầu, ngày khởi tạo thông điệp và chữ ký của người tạo ra nó được dùng để chọn các khối rỗng và trống.

1.jpg -0
Herbert Yardley, nhà mật mã học lừng danh người Mỹ, sáng lập và điều hành tổ chức giải mật mã Phòng Đen. Ảnh nguồn: Wikipedia.

Tháng 12-1943, thủ tục này đã thay đổi. Việc dùng mã chữ cái 2 và 3 cùng với các khuôn tô và khóa chuyển vị khác nhau đã gây khó cho giải mã. Phương pháp chính được dùng là phân tích một lượng lớn các thông điệp theo chiều sâu, kế đó là dùng phương pháp đảo ngữ để giải mã và phục hồi giá trị mã. Ngoài các phương pháp thống kê, có thể xử lý những thông điệp bằng cách tận dụng các sai lầm của nhà điều hành, chẳng hạn như gửi cùng thông điệp bằng 2 khóa khác nhau, tạo ra cùng thông điệp trên các mã TOKI và GEAM, có các khởi đầu dập khuôn...

Từ các thống kê có được dựa trên việc xử lý các thông điệp và báo cáo về hệ thống TOKI đã được phát hành thì rõ ràng đây là một trong những hệ thống ngoại giao viết tay cao cấp nhất của Nhật Bản. Trong giai đoạn 1943-1945, các hệ thống ngoại giao chính của Nhật Bản đã được giải mã và chuyển tiếp cho Cục tình báo quân sự, nơi dùng máy mật mã Tím (JAA), các hệ thống mã TOKI (JBA), GEAM (JBB), Sách mã số 1 (JBC) và mã vô kỷ luật LA (JAH).

Tại Australia, Bộ phận đặc biệt ngoại giao (DSS) trực thuộc Trụ sở các lực lượng quân sự Australia ở Melbourne chịu trách nhiệm giải mã ngoại giao Nhật. Người đứng đầu DSS trong giai đoạn 1942-1944 là A.D. Trendall, giáo sư tiếng Hy Lạp tại Đại học Sydney. Theo báo cáo của “Báo cáo Phần tình báo đặc biệt - Mật mã ngoại giao Nhật Bản” thì mật mã TOKI là mã đầu tiên trong các loại mã của Văn phòng ngoại giao Nhật bị phá vỡ.

Hệ thống này nhanh chóng bị xâm phạm bởi đại sứ Nhật Bản tại Lisbon là Morishima Morito. Báo cáo nói rằng Morito đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng bằng cách dùng thông điệp bằng 2 khóa riêng biệt, điều này cho phép 2 thông điệp được xử lý và một số nhóm mã bị nhận diện. 

Tại Đức, bộ mật mã và mật mã ngoại giao được thực hiện bởi 3 cơ quan khác nhau là bộ phận giải mã của Bộ chỉ huy tối cao Đức (OKW/Chi), bộ phận giải mã của Bộ Ngoại giao Đức (Pers Z) và bộ phận nghiên cứu của Bộ Hàng không Đức. Tại bộ phận giải mã của Bộ chỉ huy tối cao Đức, các hệ thống ngoại giao Nhật thực hiện bởi Tiểu khu Tham chiếu 13 được đứng đầu bởi Trung úy thứ nhất Adler.

Khoảng 15 người được tuyển dụng cho đơn vị này, và theo ông Reinhard Wagner (một thành viên của đơn vị) thì mật mã TOKI được giải bởi bộ phận này. Tại OKW/Chi, họ không chỉ giải các mã chuyển vị của Nhật Bản mà còn xây dựng một thiết bị phân tích mật mã chuyên dụng gọi là “thiết bị tìm kiếm ghép” nhằm khôi phục các thiết lập hàng ngày.

3.jpg -0
Giselher Wirsing - tác giả kiêm nhà báo xuất sắc - người mà vào năm 1944 đã gia nhập bộ phận tình báo đối ngoại Sicherheitsdienst (SD, Đức) với tư cách là người đánh giá. Ảnh nguồn: Kontext Wochenzeitung.

Về bộ phận giải mã của Bộ Ngoại giao Đức (Pers Z). Tại đây, những hệ thống Pers Z của Nhật Bản do một nhóm người làm việc dưới sự chỉ đạo của chuyên gia cấp cao, Tiến sĩ Rudolf Schauffler. Bộ phận này đã giải thành công những mã chuyển vị ngoại giao của Nhật Bản, bao gồm mã TOKI mà trong các báo cáo Pers Z đã xác định là JB-64.

TS Schroeter, một nhà phân tích mật mã của bộ phận nghiên cứu toán học đã làm việc với các mã của Nhật Bản, đã phát biểu trong báo cáo TICOM I-22 rằng: “TS Schroeter đã tham gia vào tổ chức tương đối muộn hơn (mùa Xuân năm 1941) và không có ý định “ở lại”. Ông là giảng viên về logic toán học tại Đại học Munster (Đức). Ông bắt đầu làm việc trên các bản mã chuyển vị đơn giản, chúng là những chuyển đổi đơn lẻ với các khoảng trống trên những cuốn sách 2 chữ cái.

Còn tại phòng nghiên cứu của Bộ Hàng không Đức, các hệ thống Nhật Bản được làm việc bởi Abteilung 7 (Mỹ, Anh, Ireland, Nam Mỹ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Viễn Đông). Bộ phận này có từ 60 đến 70 nhân viên. Không may là tại thời điểm đó có rất ít thông tin về nỗ lực phân tích mã của bộ Hàng không.

Thông điệp từ Đại sứ quán Nhật ở Liên Xô

Trong Thế chiến II, Nhật Bản đã chiến đấu ngả về phe Trục nhưng lại tránh đối đầu với Liên Xô. Cuối cùng chiến tranh giữa Liên Xô và Nhật đã bùng nổ vào tháng 8-1945, ngay trong giai đoạn mà các nhà ngoại giao Nhật đang tự do thu thập và truyền tải thông tin quan trọng từ Liên Xô đối với những phát triển chính trị và quân sự cũng như những thảo luận và đàm phán của họ với quan chức Liên Xô. Những thông điệp này là mục tiêu hàng đầu cho những nhà phá mã Đồng Minh và Đức.

5.jpg -0
Thiết bị tự động thiết lập các mô hình mật mã hàng ngày Gee-Whizzer của Nhật Bản. Ảnh nguồn: CMIC.

Trong thời kỳ 1943-1945, thông điệp từ Đại sứ quán Nhật cho thấy rõ ràng bang giao quan hệ Liên Xô - Nhật đang dần xấu đi. Một số thông điệp này được dùng trong một loạt các báo cáo được chuẩn bị bởi Giselher Wirsing (tác giả kiêm nhà báo xuất sắc), người mà vào năm 1944 đã gia nhập bộ phận tình báo đối ngoại Sicherheitsdienst với tư cách là người đánh giá. Wirsing đã thu hút sự chú ý của Tướng Walter Schellenberg (người đứng đầu tình báo đối ngoại SD) bởi sự phân tích khúc chiết của ông về tình hình chính trị toàn cầu và triển vọng tương lai kém của Đức.

Dưới sự che chở của Tướng Schellenberg, Wirsing đã viết hàng loạt những báo cáo khách quan cho thấy rằng Đức đang thua trong cuộc chiến và buộc phải tìm ra một giải pháp chính trị để tránh thất bại toàn diện. Trong những cuộc thẩm vấn sau chiến tranh, Wirsing đã đề cập đến những thông điệp được giải mã mà ông dùng trong các báo cáo của mình.

Các báo cáo có những thông điệp mật như sau: “Đại sứ quán Nhật ở Moscow. Những bức điện tín thỉnh thoảng được giải mã cho thấy rõ ràng là người Nhật đang gặp khó trong việc duy trì tình hữu nghị với Liên Xô. Nguồn tin này được xác nhận từ một người có bí danh “V” liên quan đến một cuộc họp mật của các sứ giả Nhật, Nga diễn ra ở đâu đó tại Siberia”.

Nguyễn Thanh Hải (Tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.