Madeleine Riffaud – Một người con của Việt Nam

Madeleine Riffaud, SN 1924, có bố mẹ đều là nhà giáo, "dòng dõi" nông dân nghèo, cả đời sinh sống và dạy học ở miền Tây nước Pháp. Cha theo chủ nghĩa xã hội, từng bị thương trong Thế chiến thứ nhất. Riffaud bộc lộ thiên hướng thi ca rất sớm và dự định theo nghề bố mẹ.

Nhưng năm 1940, bà thay đổi hướng đời, khi nhận rõ sự cao ngạo, hỗn xược và vô nhân tính của quân xâm lược Đức. Bà tham gia kháng chiến chống phát xít một cách thiết thực và dũng cảm.

Đầu năm 1944, bà được kết nạp vào đảng cộng sản. Quyết đoán và cực kỳ gan dạ, bà được chỉ huy một nhóm chiến sĩ. Ở thủ đô Paris, nhóm của bà từng khôn khéo dừng được một đoàn tàu hỏa chở lính Đức, bắt sống nhiều tên.

Cũng tại đó, ở tuổi 20, bà bắn chết một sỹ quan Đức, một cách đường hoàng, giữa thanh thiên bạch nhật. Đấy như một lời cảnh cáo quân xâm lược quá ngạo nghễ và tàn bạo. Bà bị bắt. Mấy tuần bị tra tấn dã man - bà không khuất phục…

Bác Hồ trong một lần tiếp nhà báo Madeleine Riffaud.

Bác Hồ trong một lần tiếp nhà báo Madeleine Riffaud.

Bà bị quân Đức kết án tử hình. Trong thời gian chờ bị bắn, bà làm thơ. Bà viết Bài ca sự sống, nói về cái chết của mình, có những câu được chuyền tay đọc mãi: "Những con người này sẽ giết tôi/ Nhưng chiến hữu, xin đừng giết họ/ Khi họ thua - như con chồn vào rọ/ Tối nay tôi xiết đỗi bồi hồi/ Tim chỉ còn tình yêu/ Ôi tình yêu khôn tỏ… Những tâm hồn cao thượng như bà không thể chết, cho nên bà được cứu sống một cách thần kỳ.

Bà trải qua một bi kịch đau đớn. Đó là không được đi theo đoàn quân giải phóng rút khỏi Paris từ cuối 1944 sạch bóng quân xâm lược, vì vẫn bị coi là trẻ con, nhất là không có giấy chấp thuận của cha mẹ.

Nhờ thi hào cộng sản Paul Eluard (1895-1952), bà được tiếp tục chiến đấu, với cây bút lợi hại và hút hồn. Một cuốn sách của bà được chào đón nồng nhiệt. Một số bài thơ của bà được phổ nhạc, rất thịnh hành thời đó. Bà vừa sáng tác lời ca khúc, vừa bắt đầu viết báo, cho tờ Chiều nay của Louis Aragon (1897-1982). Sau đó là Đời thợ.

Madeleine Riffaud với các chiến sĩ giải phóng Miền nam.
Madeleine Riffaud với các chiến sĩ giải phóng Miền nam.

Chính trên tờ này, bà góp phần khiến không chỉ nước Pháp rung động về cuộc chiến tranh xâm lược bẩn thỉu mà thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương và Việt Nam, qua vụ án Henri Martin (1927-2015) và Raymon Dien, SN 1929, đến nay vẫn được nhắc lại.

Chuyện là năm 1945, thủy thủ Henri Martin, cựu chiến sĩ kháng chiến chống Đức, được điều sang Việt Nam. Ông tưởng sang để đánh phát xít Nhật. Thực tế, quân Nhật đã bị tước vũ khí, quân Pháp bắn giết người dân xứ này. Ông quay về Pháp, phát động phong trào tố cáo nhà cầm quyền Pháp, - biến thành một phong trào phản chiến mạnh mẽ.

Tháng 3-1950, ông bị bắt, bị kết tội xúc phạm tinh thần Pháp, phá hoại… Và bị kết án 5 năm tù. Dư luận Pháp, nhất là của giới trí thức và văn nghệ sĩ phản đối rầm rộ. Cho nên ông được tự do giữa 1953…

Tháng 1-1950, bà Raymon Dien tham gia cuộc biểu tình ở nhà ga mà một đoàn tàu chở xe bọc thép và quân trang quân dụng cho đội quân xâm lược Pháp ở Đông Dương sắp chuyển bánh. Bà cùng một số người nằm xuống, chắn ngang đoàn tàu. Chỉ bà bị bắt và bỏ tù, vì bà là cộng sản…

Raymon Dien và Henri Martin suốt từ đó hoạt động chống thực dân và chiến tranh phi nghĩa không mệt mỏi. Họ được không chỉ nhân dân Pháp xưng tụng và tri ân, ví dụ Raymon Dien được người Nga dựng tượng…

Madeleine Riffaud và nhà thơ Nguyễn Đình Thi.
Madeleine Riffaud và nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

Sau khi rời hai tờ báo nói trên, Madelein Riffaud trở thành phóng viên của báo Nhân đạo, cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Pháp. Bà từng sang Algerie nhiều đợt, bị ám sát hụt nhiều lần, nhưng cống hiến lớn lao cho công cuộc giành độc lập của đất nước đó.

Duyên nợ của bà với Việt Nam thì lớn lao hơn nhiều. Đầu những năm 1970, sức khỏe sụt giảm, bà vào làm hộ lý cho một bệnh viện Paris. Lau chùi nhà cửa, thu giặt khăn đệm quần áo bệnh nhân, nắm tay người bệnh nặng, ghi lại những lời trối trăng, vuốt mắt cho người vừa chết…

Tình người và tấm lòng của bà kết tinh vào Đồ vải bệnh nhân ban đêm, một cuốn sách khác thường. Không bỗng dưng, lần in đầu, 1975, sách bán được một triệu bản và tái bản liên tục cho tới hôm nay. Xác thực và rung động tới trào lệ.

Ấn tượng nhất là, dù thù lao "bé mọn", bị thờ ơ và quên lãng, các nhân viên y tế vẫn tận tụy với những đồng loại đang cần tới họ.

Vượt lên tất cả những gì chưa đẹp là sự đồng cảm, sẻ chia và yêu thương thực lòng, - giá trị nhân bản cốt tử vẫn chan chứa ở nơi tưởng chỉ còn tang thương và chết chóc. Thơ, truyện, ký sự, tiểu luận của bà, - chưa cần điểm tới, nguyên tác phẩm như ghi chép này, một tác phẩm văn chương kinh điển, cũng đủ liệt Madeleine Riffaud vào hàng những nhà văn đích thực, nhà văn mà xã hội không thể thiếu.

Bộ đĩa nhạc M.Riffaud tặng Bác Hồ.
Bộ đĩa nhạc M.Riffaud tặng Bác Hồ.

Bà không còn sức leo lên tầng hai, cuộc sống thực thụ của bà. Chỉ khi bọn trẻ tới, bà mới lên thăm lại. Trong đấy có nhiều ảnh và thư của Nguyễn Đình Thi, một nhà văn của Việt Nam. Bà đành ăn ngủ ở tầng một. Chiều nào bà cũng gọi điện hay vui vẻ trả lời người dân, người thân, bạn hữu. Sẵn sàng tham dự các sự kiện của thủ đô, của chính phủ, của các hội đoàn. Như một san sẻ niềm vui, lạc quan và tin tưởng.

Nhiều phỏng vấn, phim ảnh, chương trình truyền hình, sách vở,.. dành cho Madeleine Riffaud, nhà kháng chiến chống phát xít trẻ nhất, "bà lớn" của nước Pháp, nhà báo gạo cội, nhà văn của đời thường, công dân Pháp mẫu mực. Cảm động bậc nhất là phim tài liệu Ba cuộc chiến của Madeleine Riffaud, năm 2010, của Philippe Rostan, sinh năm 1964, đạo diễn Pháp gốc Việt.

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là thân thương nhất đối với Madeleine Riffaud. Độ sâu thẳm này hẳn đã được "kích hoạt" và mở rộng không ngừng, chủ yếu nhờ nhà văn Nguyễn Đình Thi và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cố nhà văn Nguyễn Đình Thi từng đọc văn thơ của bà qua nguyên bản. Ông rất cảm phục và quý trọng cô gái tài hoa và dũng cảm, một chiến sĩ Cộng sản bất khuất.

Năm 1951, khi sang Đức dự Đại hội Thanh niên dân chủ thế giới lần thứ ba, ông tìm đến phái đoàn Pháp hỏi thăm tin tức về Madeleine Riffaud. Ông háo hức nhất là được tiếp cận bài ca tuyệt mệnh của bà. Bài ca này, ông tin chắc là tuyệt bút và chứa chan lòng tin vào chiến thắng cuối cùng của cuộc chiến đấu chung mà bà và ông là những chiến sĩ xả thân vô điều kiện.

Cố nhà văn được một nữ đồng nghiệp của bà - trong phái đoàn Pháp - bố trí cho gặp gỡ. Madeleine Riffaud và Nguyễn Đình Thi đều bị sốc mạnh. Sự đồng điệu ngoài sức tưởng tượng về lý tưởng cách mạng, ý chí chống thực dân và xâm lược, lối sống quên mình cho lý tưởng và đồng bào…

Madeleine Riffaud đã kết hôn năm 1945 với Pierre Daix, một chiến sĩ kháng chiến Pháp từ trại tập trung trở về. Họ có một bé gái ốm yếu, phải gửi về nhờ bố mẹ bà nuôi dưỡng chật vật. Biết mình có thể không có con nữa, hoặc nếu có, con cũng khó sống nổi, bà xin chia tay chồng, năm 1948. Ấy là hậu quả của cuộc đấu tranh chống phát xít của bà.

Nguyễn Đình Thi thì đã yên ấm gia đình từ năm ông hơn 17 tuổi. Học giỏi, đẹp trai, ăn nói hấp dẫn, bố mẹ ông tác thành ông với bà Bùi Nữ Trâm Nguyệt Nga, cháu gái một quan tuần phủ. Khi gặp Riffaud, ông đã có ba con ở quê nhà. Đầu năm 1952, vợ ông mất vì bệnh.

Ông tái giá với bà Phạm Thị Trường, một cán bộ địch vận ở Hải Dương. Bà Trường về sau thành bác sỹ. Sau này bà từng là Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô. Do đau ốm nhiều, bà mất khả năng sinh nở. Khi bà mất, cũng vì bệnh tật, Nguyễn Đình Thi chính thức chung sống với nữ diễn viên Tuệ Minh, SN 1948, cho tới hết đời.

Với Riffaud, cố nhà văn Nguyễn Đình Thi giữ một tình bạn đặc biệt. Họ thường xuyên trao đổi thư từ, ảnh và kỷ vật. Bộ ảnh và thư này, hàng trăm chiếc, trước khi lâm chung, ông mới trao lại cho con trai, nhà văn Nguyễn Đình Chính. Nguyễn Đình Thi là người đàng hoàng và tuân theo nếp cổ.

Ông đã thổ lộ qua kiệt tác thơ Nhớ, 1951, nói về Madeleine Riffaud. Với Madeleine Riffaud, Nguyễn Đình Thi cũng là một người bạn đặc biệt. Ông không giấu bà về gia cảnh riêng. Vì vậy, bà thường viết thư cho các con ông, và gửi tiền cho chúng nữa. Nguyễn Đình Chính đã sang Pháp, thăm Madeleine Riffaud và luôn luôn trân quý bà như một công dân và ngòi bút sáng giá…

Năm 1946, khi được giới thiệu với bà, Bác Hồ đã thốt lên: "Đây là cô gái Paris dũng cảm?... Và Bác nói, làm báo là một sự nghiệp thực sự. Bây giờ, con còn học tập. Khi nào thành nhà báo thuần thục, con hãy sang Việt Nam...

Năm 1954, bà sang Việt Nam, để phản ánh với thế giới công cuộc xây dựng lại đất nước của Việt Nam, được Bác tặng hai tấm lụa. Bà đem một tấm, may một áo bà ba, mà bà hay mặc, như mình là người Việt. Tấm thứ hai, bà may tiếp một áo như thế và mặc trong chuyến về lại Việt Nam.

Đến năm 1958, bà công bố truyện Con mèo quái lạ, như một truyện cổ tích, về người Việt Nam dí dỏm, khiêm nhường và thiết thực. Cuốn sách được tái bản năm 1978 và tiếp tục in lại gần đây.

Năm 1964, bà cùng nhà báo Úc danh tiếng Wilfred Burchett, mà bà quen ở CHDCND Triều Tiên, từ Campuchia, bí mật sang miền Nam Việt Nam. Bà lăn lộn ở các chiến khu của quân giải phóng, như một chiến sĩ đích thực, với áo lụa bà ba, tên "chị Tám" thân mật. Năm 1965, trong các bưng biền "Việt cộng" của bà, kết quả chuyến đi, thành công vang dội, được dịch ra nhiều ngôn ngữ.

Bà gửi sách cho Bác Hồ với lời đề tặng: "Kính tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lòng biết ơn vô bờ và tình yêu sâu nặng mà con dành cho Người và Dân tộc của Người, Dân tộc sẽ chiến thắng những tên phát xít mới". Bác đọc kỹ, ghi "chú ý" bên lề nhiều trang, gấp mép đánh dấu nhiều trang khác để dễ tìm đọc lại.

Tiếp đó, bà quay lại miền Bắc Việt Nam, ghi lại tội ác của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại, cũng như cuộc chống trả anh dũng của quân dân ta. Thật kinh ngạc, bà tỏ ra quả cảm lạ lùng giữa bom rơi đạn nổ. Bà là phóng viên nước ngoài duy nhất luôn luôn có mặt ở những nơi máy bay Mỹ đang trút bom xuống, như nhà ga, bệnh viện, trường học.

Năm 1967, bà kịp ra mắt cuốn Ở Bắc Việt Nam: viết dưới bom đạn, như một thu hoạch "đi thực tế sôi nổi và hào sảng". Đặc biệt xúc động là những trang bà viết về Bác: "Hầu như sáng nào, tôi cũng muốn phỏng vấn Bác, nhưng không được. Tôi là nhà báo, lại bị phỏng vấn, phải liên tiếp trả lời Người về miền Nam Việt Nam mà từ lâu Người không tới được, về đảng Cộng sản Pháp, về những người bạn Pháp và châu Âu của Người".

Năm 1968, bà dịch sang tiếng Pháp cuốn tiểu thuyết Mặt trận trên cao của Nguyễn Đình Thi. Báo Nhân đạo, ngày 21-9-1969, đăng bài của  viết bà khi Bác ra đi giữa mùa thu, với nhiều kỷ niệm: "Nếu con muốn Bác vui, hãy gửi cho Bác những ca khúc của Maurice Chevalier mà Bác thường nghe hồi bên ấy, khi con chưa chào đời (Bà đã gửi đủ sáu đĩa của danh ca này. Bác nghe rất thích).

"Nhiều đêm khuya, công việc xong đâu vào đấy, Người ngả lưng trên giường, mở đài bán dẫn, nghe các buổi phát thanh nước ngoài… Có ai nhắc Người đi ngủ,  Người mỉm cười đáp: Tôi đang nghe tiếng nói của nhân loại".

Nhân đạo cũng đăng bản dịch Di chúc của Người, do bà (tham gia) dịch, hiệu đính và giới thiệu. Trong lễ truy điệu Người ở Paris, bà mặc áo bà ba, đội khăn tang, khóc  cúi lạy Người, như một con em Việt ruột đau chín chiều, vĩnh biệt Người cha vĩ đại…

Trần Bích Nga

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.