Lương Văn Can - Người thầy của doanh nhân Việt

Một trong những người đã góp công rất lớn vào sự hình thành và phát triển của nghề kinh doanh trong thuở khởi đầu là Lương Văn Can. Giới doanh nhân ngày nay đều xem ông là bậc thầy về kinh doanh những năm đầu thế kỷ 20.

Kỳ 1: Trường Đông Kinh Nghĩa Thục

Đầu thế kỷ 20, rất nhiều nhà nho yêu nước đã cùng hiệp lực nổi lên hồi trống duy tân, mang những văn minh từ nước ngoài vào với mong muốn thay đổi tận gốc rễ xã hội. Song song đó là việc hô hào, cổ súy xã hội tham gia vào việc kinh doanh mặc dù nghề buôn bán vốn bị triều đình phong kiến xem thường. Một trong những người đã góp công rất lớn vào sự hình thành và phát triển của nghề kinh doanh trong thuở khởi đầu là Lương Văn Can. Giới doanh nhân ngày nay đều xem ông là bậc thầy về kinh doanh những năm đầu thế kỷ 20.

Xa lánh chốn quan trường

Lương Văn Can hiệu là Ôn Như, sinh năm Giáp Dần (1854) trong một gia đình nghèo, mấy đời mưu sinh bằng nghề nông và nghề tiện gỗ ở làng nghề thủ công truyền thống của xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội).

Chân dung nhà chí sĩ Lương Văn Can.
Chân dung nhà chí sĩ Lương Văn Can.

Ở tuổi thiếu niên, Lương Văn Can theo học tại trường của ba ông tú ở trong làng, trong đó có ông Tú Liêm, người có những ảnh hưởng nhất định đến nhân cách Lương Văn Can. Ông Tú Liêm sau này hoạt động chống Pháp và bị bắt rồi bị bắn chết, bêu đầu ở phủ Hoài Đức. 

Lương Văn Can đã có một hành động rất dũng cảm khiến nhiều người nể phục là một mình dám đứng ra xin xác thầy về mai táng. Sự việc trên được triều đình nhà Nguyễn khen Lương Văn Can là người có nghĩa!

Những năm tiếp theo, Lương Văn Can may mắn được học với một người thầy tài đức, tâm huyết với nghề dạy học và không màng danh lợi. Đó là cụ cử Nguyễn Huy Đức (tự Thành Phủ) ở xã Vũ Thạch, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức (nay là khu vực phố Tràng Thi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Phẩm hạnh của người thầy đặc biệt này ảnh hưởng rõ rệt đến sự lựa chọn nghề nghiệp và con đường đi sau này của ông.

Năm 1874, Lương Văn Can đi thi và đỗ Cử nhân tại trường thi Hương tổ chức ở Hà Nội. Năm 1875 ông đi thi Hội và vào đến nhị trường. Sau kỳ thi, Lương Văn Can được triều đình bổ nhiệm làm Giáo thụ phủ Hoài Đức nhưng ông đã khước từ. Sau đó, ông còn từ chối chức Ủy viên Hội đồng Thị chính thành phố Hà Nội, một cơ quan đại nghị do chính quyền thực dân thành lập.

Xa lánh chốn quan trường, Lương Văn Can về mở trường Ôn Như tại số 4 Hàng Đào, Hà Nội. Ông chuyên tâm vào việc đào tạo những lớp trí thức trẻ có tâm, có tài cho đất nước. Rất nhiều học trò của ông sau này tham gia các tổ chức cách mạng, nhiều người đóng góp tiền bạc cho các tổ chức yêu nước. Lương Văn Can đã nghiên cứu học tập một số bậc tiền bối có tư tưởng duy tân như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch… 

Đó là những người ít nhiều hấp thu nền văn minh phương Tây, đã từng đề nghị triều đình nhà Nguyễn thực hiện những chính sách mới, mang tính cách mạng cho đất nước: khai trí cho dân, học tập những công nghệ của phương Tây, chấn hưng nền kinh tế.

"Không sợ tốn tiền, không ngại đổ máu"

Đầu năm 1906, tại số 4 Hàng Đào diễn ra cuộc họp lịch sử của những chí sĩ yêu nước nổi tiếng như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Quyền, Đỗ Chân Thiết, Lương Trúc Đàm… 

Sự có mặt của Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu trong cuộc họp này chính là hai gương mặt đại diện cho hai đường lối đấu tranh ôn hòa và bạo động. Dù có những bất đồng về đường lối, song cuối cùng các chí sĩ đã thống nhất để đi đến việc thành lập một ngôi trường duy tân, mở những lớp học không thu tiền nhằm khai dân trí, nâng cao trình độ của người dân. 

Phố Hàng Đào, Hà Nội năm 1906.
Phố Hàng Đào, Hà Nội năm 1906.

Các chí sĩ đã đồng tình với nhận định: Người Việt thua Pháp vì sự lạc hậu, yếu kém về kinh tế, văn hóa, chính trị. Muốn đấu tranh giành được quyền tự chủ thì trước hết phải mở mang dân trí, tầm hiểu biết cho người dân. Khi dân trí cao, kinh tế, văn hóa cũng sẽ phát triển và đồng thời người dân sẽ nhận ra trách nhiệm của mình trước Tổ quốc. Việc chấn hưng giáo dục nên làm trước nhất để nhanh chóng khắc phục sự yếu kém của người Việt, bồi dưỡng những nhân tài, nhanh chóng hội nhập với nền văn minh thế giới.

Sau khi đã hoàn toàn thống nhất, tháng 3 năm 1906, trường Đông Kinh Nghĩa Thục chính thức được thành lập và khai giảng lớp đầu tiên. Những thành viên sáng lập trường khoảng hơn 40 người, trong đó có tên tuổi của hầu hết những danh sĩ nổi tiếng: Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Chu Trinh, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học…

Trường Đông Kinh Nghĩa Thục chủ trương không dạy theo lối khoa cử đương thời, nghĩa là không áp dụng cách nhồi nhét kiến thức để người học học thuộc rồi đi thi ra làm quan như thông lệ xưa nay. Trường quan niệm học để lấy kiến thức, lấy sự hiểu biết và học để thực nghiệp, lấy trí thức áp dụng vào đời sống.

Trường được chia làm 4 ban: Ban Giáo dục, Ban Tu thư, Ban Cổ động và Ban Tài chính. Chữ Quốc ngữ được coi là ngôn ngữ chính cho các môn sinh trong trường, ngoài ra còn có thêm chữ Hán và Pháp văn. Đây là một ngôi trường theo mô hình của trường Kháng Ứng Nghĩa Thục của Nhật Bản, nơi đã đào tạo các nhà duy tân góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước phù tang. Chương trình dựa theo lối tân học Trung Hoa, Nhật Bản, dạy thể thao, toán pháp, địa dư, lịch sử, văn chương, công dân giáo dục. Ngoài ra, các tài liệu cũng lồng vào các bài giảng kêu gọi lòng yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc.

Với khẩu hiệu "khai dân khí, chấn dân khí, hậu dân sinh", các tài liệu của trường Đông Kinh Nghĩa Thục được soạn ra cùng một mục đích: kêu gọi đồng bào đổi mới về tư duy, hướng dân chúng theo cách học thực nghiệp. Trường chia làm 8 lớp từ tiểu học tới trung học. Không những không phải đóng học phí (trừ lớp học tiếng Pháp) mà người học còn được phát giấy bút, sách vở. Người nào bận công việc ban ngày thì có thể học ban đêm.

Có thể nói gia đình Lương Văn Can đã cống hiến tất cả cho trường: nhà riêng thì được hiến cho trường học, là ký túc xá cho những học sinh nghèo; con trai con gái đều có người tham gia dạy học; ông thì vừa đảm đương chức Hiệu trưởng, vừa đảm nhiệm công việc biên tập tài liệu giảng dạy, đồng thời là "tay hòm chìa khóa" của nhà trường. Không những thế, kinh phí để duy trì các hoạt động của trường cũng có công không nhỏ của vợ ông và các cô con gái.

Vào tháng 5 năm 1906, khi trường chính thức được chính quyền Pháp cấp phép, từ con số 60 học sinh ban đầu, số người theo học đã lên tới vài trăm. Vì vậy, để duy trì cho trường hoạt động phải cần một nguồn kinh phí rất lớn. 

Đóng góp của các sĩ phu và các nhà hảo tâm bắt đầu thưa dần bởi ai cũng phải lo kinh tế cho gia đình riêng họ trong thời buổi khó khăn. Vợ Lương Văn Can là người buôn bán, bà có hai hiệu buôn tại Hà Nội, trong đó hiệu buôn vải tại số 4 Hàng Đào đã cống hiến cho trường. 

Gia đình đã đóng góp rất nhiều lần cho trường và các tổ chức cách mạng đưa người ra nước ngoài học tập, nên dù việc buôn bán rất phát đạt nhưng nguồn tài chính gia đình không thể cáng đáng nổi nguồn chi tiêu của trường. Tình hình tài chính Đông Kinh Nghĩa Thục rơi vào tình thế cực kỳ khó khăn, cần ngay số tiền lớn để duy trì cho bộ máy ngày càng phình to.

Sau những đắn đo suy nghĩ, Lương Văn Can bàn với vợ bán luôn tiệm buôn Quảng Bình An ở phố Hàng Ngang để dồn tiền cho trường học. Hiệu buôn bán được 7.000 đồng, tất cả đều sung vào công quỹ nhà trường.

Sự dấn thân của gia đình Lương Văn Can khiến chí sĩ Phan Bội Châu càng thêm kính phục và trân trọng. Cả nhà ông, từ cha đến con đều thiết tha yêu nước và hết sức hăng hái tham gia vào phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc (Con trai Lương Văn Can là Lương Ngọc Quyến theo phong trào Đông Du sang Nhật học năm 1906). Ông đã "xuất tiền hàng nghìn hàng vạn" để tiếp tế cho phong trào Đông Du trong những giai đoạn khó khăn nhất, khi mà mật thám Pháp giăng lưới khắp nơi, cả ở trong nước lẫn nước ngoài. Phan Bội Châu đánh giá lòng yêu nước của cha con Lương Văn Can là "không sợ tốn tiền, không ngại đổ máu".

Tuyên truyền bằng diễn thuyết

Ngoài công việc giảng dạy, mỗi tháng Trường Đông Kinh Nghĩa Thục có hai buổi diễn thuyết trước công chúng vào ngày rằm và mùng một. Đây là một trong những hoạt động tuyên truyền rất hiệu quả của Đông Kinh Nghĩa Thục. 

Trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại số 4 Hàng Đào (ngôi nhà đầu tiên bên phải).
Trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại số 4 Hàng Đào (ngôi nhà đầu tiên bên phải).

Những đề tài diễn thuyết đều được xoay quanh mục đích chính: làm sao truyền được các kiến thức mới cho người dân, xóa bỏ dần những hủ tục lạc hậu tồn tại trong đời sống xã hội hàng ngàn đời, đồng thời cũng là tiếng chuông đánh thức lòng yêu nước, tính tự cường dân tộc.

Lương Văn Can, người cao tuổi nhất với vẻ điềm đạm, chững chạc rất đáng kính thường giữ vai trò chủ tọa. Các diễn giả thường xuyên như Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền, Nguyễn Văn Vĩnh… trái lại rất sôi động và phóng khoáng. Họ đều là những người tiên phong trong cách ăn mặc mới: quần tây áo cánh, cắt tóc ngắn và để răng trắng. 

Con trai thứ của Lương Văn Can là Lương Trúc Đàm cũng là một trong những nhà giáo, nhà diễn thuyết đầy nhiệt huyết. Dân chúng Hà thành đặc biệt tán thưởng một diễn giả rất hăng hái và có cách diễn thuyết đầy cuốn hút, đó là Phan Chu Trinh. Mỗi lần có dịp ra Bắc, ông lại tham gia vào hoạt động diễn thuyết trước hàng ngàn dân chúng. Các cuộc đăng đàn diễn thuyết đôi khi trở thành những cuộc tranh luận rất sôi nổi và bình đẳng của các diễn giả.

Từ những buổi diễn thuyết, thơ văn cổ vũ lòng yêu nước và tinh thần đổi mới đã đi sâu vào các tầng lớp nhân dân, thổi bùng lên những phong trào đổi mới như cắt tóc ngắn, ăn mặc Âu hóa, phản đối việc dùng tiền sắt do thực dân Pháp đúc… 

Các hoạt động giảng dạy, diễn thuyết của trường Đông Kinh Nghĩa Thục đã lan ra các vùng phụ cận. Trường ban đầu ở số 4, sau mướn thêm căn số 10 Hàng Đào mới đủ chỗ cho học sinh. 

Ngoài ra, Đông Kinh Nghĩa Thục còn mở 4 phân hiệu tại Hà Đông và Sơn Tây. Nhiều trường lớp mô phỏng Đông Kinh Nghĩa Thục được mở ra ở các tỉnh lân cận khác như Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương… Các phong trào này hòa với các phong trào duy tân ở miền Trung rồi Sài Gòn đã tạo nên một làn sóng duy tân trên khắp đất nước.

Những tư tưởng trên còn lan xa, lan rộng nhờ sự ủng hộ của những tờ báo tiến bộ thời đó. Hai cơ quan ngôn luận chính cho Đông Kinh Nghĩa Thục là "Đăng Cổ Tùng Báo" do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút phần quốc văn và "Đại Việt Tân Báo" của Đào Nguyên Phổ. 

Nguyễn Văn Vĩnh cũng là người phụ trách dạy Việt văn, Đào Nguyên Phổ thì dạy Hán văn cho Đông Kinh Nghĩa Thục. Những bài viết giàu tâm huyết trên hai tờ báo này đã góp phần không nhỏ làm thay đổi, đánh bật tận gốc rễ rất nhiều hủ tục và tư duy lạc hậu của người dân.

(Còn tiếp)

Duy Tường

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.