Lực lượng 136 - cơ quan mật vụ Anh ở Malaysia

Lực lượng 136 ở Malaysia là một phần của Cơ quan điều hành hoạt động đặc biệt của Anh (SOE), nó là một tổ chức dịch vụ bí mật hoạt động trong thời Thế Chiến II. Được giao trọng trách chiêu mộ và huấn luyện du kích địa phương nhằm hỗ trợ cho việc Anh lập kế hoạch xâm lược Malaysia khi đó đặt dưới sự chiếm đóng của phát xít Nhật, Ngoài ra các thành viên của Lực lượng 136 còn thu thập tình báo và tạo ra mạng lưới gián điệp ngầm.

Vì sao có Lực lượng 136?

Tháng 2/1942, Singapore rơi vào tay phát xít Nhật. Đại tá Basil Goodfellow, một quan chức Anh, đã nhanh chân di tản trước khi người Anh đầu hàng và đến tháng 7 cùng năm đó đã thành lập nên Phân đội Lực lượng 136 ở Malaysia. Hai sĩ quan người Anh khác cùng tìm cách trốn thoát khỏi Malaysia đã làm cố vấn cho đại tá Goodfellow. Họ là Đại úy Richard Broome (một công chức) và Đại úy John Davis (một sĩ quan cảnh sát) họ đã huấn luyện các du kích người địa phương tại Trường đào tạo đặc biệt 101 trước khi quân Nhật xâm chiếm Malaysia.

Nhằm thực hiện các mục tiêu của mình ở Malaysia, Lực lượng 136 đã tìm kiếm các tân binh người Trung Quốc đứng chân vào các toán biệt kích. Điều này là hết sức cần thiết kể từ khi các điệp viên người da trắng không thể len lỏi vào dân tình bản địa, và trên hết là cảm tình kháng Nhật đã rất phổ biến ngay trong cộng đồng người Hoa. 

Lực lượng 136 - cơ quan mật vụ Anh ở Malaysia -0
Nhà tù Batu Gajah, nơi các chiến sĩ cộng sản như Lim Bo Seng bị giặc Nhật
bắt giữ và tra tấn.

Tuy vậy, vì Lực lượng 146 có tổng hành dinh ở Calcutta (Ấn Độ) nên không thể tuyển lựa được các tân binh Trung Quốc cho đến khi Thiếu tá Lim Bo Seng (hoặc Sengh, một doanh nhân xuất chúng người gốc Phúc Kiến đã dẫn đầu các hoạt động kháng Nhật trước và trong thời gian người Nhật chiếm đóng) tham gia vào đơn vị và tìm kiếm nhân sự phù hợp thông qua các mối quan hệ của mình ở Trùng Khánh (Trung Quốc).

Phần lớn lính biệt kích Trung Quốc trong Lực lượng 136 đều do ông Lim tuyển chọn, đáng chú ý là Tan Chong Tee, một kiều dân người Malaysia gốc Hoa sống trong thời kỳ Nhật chiếm đóng. Ông Lim cũng như những người lính của mình là các thành viên của tổ chức chính trị Quốc Dân Đảng (do Tôn Trung Sơn lập nên), và họ được đào tạo để sử dụng thành thạo các trang thiết bị tín hiệu không dây cũng như thu thập tình báo.

Richard Broome và John Davis cùng được bổ nhiệm làm người đứng đầu 2 nhóm biệt kích đầu tiên mang các mật danh lần lượt là Gustavus 1 và Gustavus 2, cùng xâm nhập vào Malaysia nhờ khả năng thông thạo tiếng Quảng Đông (phương ngữ Trung Quốc). Đại úy John Davis cũng là người thông thạo các điều kiện rừng rậm, trở thành một người leo núi nhiệt tình kiêm nhà hàng hải dày dạn kinh nghiệm. Từ Tích Lan (phiên âm tiếng Hán của Sri Lanka), 2 toán biệt kích đầu tiên đã được vận chuyển đến Malaysia bởi một tàu ngầm Hà Lan khi không có chiếc máy bay nào của quân Đồng Minh có khả năng bay khứ hồi qua Malaysia (thuộc địa Anh) khi đó. Tổng cộng có 6 toán biệt kích Gustavus đổ bộ lên đất Malaysia trong suốt cuộc chiến.

Lực lượng 136 - cơ quan mật vụ Anh ở Malaysia -0
Thiếu tá Lim Bo Seng, người tuyển chọn biệt kích cho Lực lượng 136 ở Malaysia.

Chiến dịch Gustavus

Ngày 24/5/1943, đại úy John Davis cùng 5 điệp viên Trung Quốc đã đổ bộ lên đảo Pangkor thuộc duyên hải Perak của Malaysia. Khu căn cứ này được thành lập trong vùng đồi Segari, còn các điệp viên vào vùng đồng bằng nhằm xây dựng mạng lưới tình báo bằng cách thiết lập nhiều dạng nghề nghiệp khác nhau ở Perak. Các liên lạc được thực hiện với phong trào kháng chiến chính là Quân đội kháng Nhật nhân dân Malaysia (MPAJA) do cộng sản lãnh đạo vào ngày 30/9/1943.

Sĩ quan liên lạc trong toán biệt kích của Đại úy John Davis không ai khác chính là Chin Peng: Tổng thư ký tương lai của Đảng cộng sản Malaysia (MCP). MPAJA cung cấp yểm trợ và nhân lực cho Lực lượng 136 bao gồm một nhóm dân quân để đảm bảo an ninh tại căn cứ Segari của đơn vị. Tuy nhiên, khu căn cứ này được cho là dễ bị tổn thương cho nên tới tháng 10/1943, căn cứ này được chuyển đến Bukit Bidor (còn có tên gọi khác là Blantan) nơi MPAJA hiện diện mạnh mẽ.

Vào ngày 1/1/1944, Lực lượng 136 có cuộc họp chính thức đầu tiên với MPAJA. Cuộc họp đã chính thức hóa mong muốn hợp tác chống phát xít Nhật và đạt được sự đồng thuận của MPAJA nhằm hỗ trợ việc tái thiết lập quyền kiểm soát của người Anh sau khi Nhật Bản đầu hàng. Đổi lại, quân Đồng Minh sẽ cung cấp vũ khí, huấn luyện, tiền bạc và y tế cho MPAJA. Tại cuộc họp cũng có sự nhất trí rằng nên gác lại câu hỏi về chính sách tương lai của Anh đối với những người cộng sản. Tuy nhiên, Lực lượng 136 đã không thể cung cấp ngay lập tức sự hỗ trợ như đã hứa cho quân du kích MPAJA khi các điệp viên thất bại trong liên lạc của họ với trụ sở, vốn đã chuyển trực tiếp từ Calcutta sang Tích Lan. Máy phát không dây được cất giấu gần khu vực đổ bộ duyên hải nhưng trọng lượng của nó lên tới 204 kg, đồng nghĩa chỉ có thể dùng xe bò mới có thể chở được.

Do lo sợ bị người Nhật phát hiện ra thiết bị không dây này khiến các điệp viên của Lực lượng 136 do dự không mang nó. Từ tháng 2/1944 trở đi tình hình mỗi lúc thêm phức tạp hơn, Lực lượng 136 liên tiếp thất bại trong việc thiết lập liên lạc với tàu ngầm chở vật tư được trụ sở phái đi. Suốt hơn một năm không có bất kỳ tin tức nào được chuyển về trụ sở do 5 lần xuất kích tàu ngầm đều bất thành. Lần xuất kích cuối cùng trong số này đã bị quân Nhật tấn công và những nỗ lực xa hơn trong việc liên lạc với tàu ngầm đã bị đình lại do nỗi sợ bị phanh phui hoặc bị tấn công thêm.

Lực lượng 136 - cơ quan mật vụ Anh ở Malaysia -0
Đô đốc Lord Louis Mountbatten cùng các chỉ huy của Lực lượng 136.

Sụp đổ mạng lưới tình báo

Tính đến tháng 3/1944, các điệp viên Lực lượng 136 đã thành lập một mạng lưới gián điệp ngầm khá đáng kể với nhiều doanh nghiệp hợp pháp đóng vai trò bình phong cho các hoạt động thu thập tình báo của họ. Vậy nhưng phần lớn công việc của họ đã đổ sông đổ bể do một điệp viên đã nhầm lẫn tàu ngầm phát xít Nhật với một tàu du lịch. Người điệp viên này đã tìm cách trốn thoát nhưng 2 trợ lý lại bị bắt giữ và từ tiết lộ của họ đã dẫn đến việc bắt giữ hàng loạt điệp viên của Lực lượng 136 đang hoạt động trong 2 thành phố.

Ông Lim Bo Seng, người đã rời khu căn cứ Bukit Bidor nhằm gây quỹ và mở rộng mạng lưới tình báo cũng nằm trong danh sách các điệp viên bị bắt giữ. Cùng với những người đồng đội khác, ông Lim được áp giải tới nhà tù Batu Gajah, nơi họ bị đám Hiến binh Nhật tra tấn dã man để lấy thông tin.

Không khuất phục sự tàn bạo của Hiến binh Nhật, người cộng sản kiên trung Lim Bo Seng đã qua đời vào ngày 29/6/1944 và được an táng trong một ngôi mộ tập thể được đào cạnh nhà tù. Một tháng sau cuộc đàn áp mạng lưới tình báo của mình, Lực lượng 136 đã hứng thêm một thất bại lớn thứ 2 vào tháng 5/1944, khi đó phát xít Nhật mở cuộc đột kích quy mô lớn nhắm vào khu căn cứ  Bukit Bidor ngay đúng lúc một số điệp viên của Lực lượng 136 đang lấy lại thiết bị máy phát không dây. Dù không có thương vong nào được ghi nhận nhưng vật tư và các tài liệu quan trọng đã bị thất lạc trong lúc khu căn cứ được vội vã sơ tán. Sau đó chiếc máy phát không dây được tái lắp đặt ở một khu căn cứ mới nhưng do thiếu máy phát điện thích hợp nên mãi đến tháng 2/1945 mới bắt đầu tái liên lạc với bộ chỉ huy.

Lực lượng 136 - cơ quan mật vụ Anh ở Malaysia -0
Những thành viên người Canada gốc Hoa của Lực lượng 136.

Chấm dứt sự chiếm đóng của phát xít Nhật

Mọi trục trặc trước đó đã được khắc phục khi một điệp viên trong Lực lượng 136 đã nghĩ cách chế tạo ra một chiếc máy phát điện chạy bằng sức người vốn được ghép từ các phần linh kiện xe đạp. Ngày 17/3/1945, cuộc họp thứ 2 với các đại diện MPAJA đã được triệu tập và cùng đồng nhất trí rằng các sĩ quan liên lạc Anh sẽ chịu trách nhiệm cho khâu đào tạo và việc ra những quyết định mang tính chiến lược sẽ thuộc quyền của mỗi trung đoàn của MPAJA.

Với việc thiết lập lại đường dây liên lạc tới trụ sở bộ chỉ huy, việc điều phối các hoạt động cung cấp vật tư theo đường hàng không và nhân sự bổ sung đã trở nên khả thi hơn. Điều này nhằm chuẩn bị cho cuộc phản công Malaysia của đế quốc Anh hay còn được biết đến dưới tên gọi Chiến dịch Zipper (kế hoạch của Anh nhằm đánh chiếm cảng Swettenham hoặc cảng Dickson của Malaysia để dàn dựng cho việc tái chiếm Singapore trong Chiến dịch Mailfist. Tuy nhiên, do chiến tranh ở Thái Bình Dương đã kết thúc nên nó không bao giờ được thực thi trọn vẹn).

Khâu tăng cường vật tư, trang thiết bị và đào tạo cho các du kích quân của MPAJA được các sĩ quan người Anh chuẩn bị chu đáo đã nâng cao đáng kể hiệu quả quân sự của họ. Vào thời điểm quân Nhật đầu hàng vào ngày 14/8/1945, đã có khoảng từ 2.800 đến 3.500 quân du kích MPAJA được trang bị vũ trang, trong khi đó tổng cộng 371 nhân sự của Lực lượng 136 bao gồm 134 binh sĩ Gurkha (là những người lính có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ, chủ yếu cư trú ở Nepal và một số vùng ở Bắc Ấn Độ.

Các đơn vị Gurkha bao gồm người Nepal và Gorkha Ấn Độ, người Ấn Độ nói tiếng Nepal và được tuyển mộ vào quân đội Nepal (96.000 người), quân đội Ấn Độ (42.000 người), quân đội Anh (4.010 người), Đội Gurkha ở Singapore, đơn vị dự bị Gurkha ở Brunei, dành cho lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và tại các vùng chiến sự trên khắp thế giới. Cựu Tham mưu trưởng quân đội Ấn Độ, Thống chế Sam Manekshaw, từng tuyên bố rằng: "Nếu một người đàn ông nói rằng anh ta không sợ chết thì anh ta đang nói dối hoặc anh ta là một Gurkha”) xâm nhập vào Malaysia.

Những chiến sĩ MPAJA cùng với các lực lượng Anh được thả dù đã phá vỡ nhiều tuyến cung cấp vật tư hậu cần của quân Nhật trong suốt Chiến dịch Zipper, nhưng với sự đầu hàng đột ngột của phát xít Nhật sau khi Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Nagasaki và Hiroshima, những gì được cho là thành quả của nỗ lực chiến tranh của Lực lượng 136 đã trở nên thừa thãi. Trong lúc chờ lên đường trở về Anh, Lực lượng 136 và MPAJA được chỉ đạo duy trì trật tự ở vùng nông thôn và đảm bảo rằng sau này sẽ không thực hiện những cuộc trả thù chống lại người Nhật hiện đang ẩn náu ở các thành phố lớn. Lực lượng 136 bị giải thể một thời gian ngắn ngay sau chiến tranh và nhiệm vụ cuối cùng của họ là giải giáp đồng minh cũ của mình: MPAJA.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.