Lão ngư xóm Phao giữa sông Hồng

Đầu đông, cái rét chưa thật ngọt, nhưng ông lão Nguyễn Đăng Được đã sù sụ áo trong áo ngoài. Chẳng phải riêng ông, mà những người dân xóm Phao ở bãi giữa sông Hồng có bao nhiêu quần áo, khăn mũ đã đem ra khoác cả lên người. Ở nơi đồng không mông quạnh này, hơi lạnh luồn lách khắp chốn, thấm đẫm hơn, xộc vào cơ thể người ta dễ dàng hơn, qua những mái lều mỏng mảnh, những vách tường liêu xiêu, hở hoác…

Người “giàu” nhất xóm Phao

Men theo con đường bê tông nhỏ chạy ngoằn ngoèo giữa đồng bãi ngút ngát, cây cối um tùm thì tìm được nhà ông Được. Dưới những tàu chuối cao ngất phần phật và rách tướp trong gió đông, trong căn lều lúp xúp, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, ông lão Được chỉ nhìn thấy trời, thấy cây, thấy nước, nghe thấy tiếng gió ù ù, dù từ đây đến trung tâm Hà Nội chỉ chừng hơn cây số.

Lão ngư xóm Phao giữa sông Hồng -0
Ông Nguyễn Đăng Được rời quê Quảng Bình ra Hà Nội đã hơn 40 năm.

Sinh năm 1947, ông lão Được là một người đàn ông đặc biệt nhất ở bãi giữa này. Cuộc đời ông với nhiều trường đoạn, không phải một chốc một lát mà tóm gọn lại được. Bao nhiêu năm đằng đẵng trôi đi, thành ra ông chẳng nhớ rõ những khúc quanh của đời mình, còn thời gian thì ang áng…

“Ngoảnh đi ngoảnh lại mà cũng đã hơn 40 năm tôi uống nước sông Hồng. Quê tôi ở xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình, bên bờ con sông Gianh. Cuộc rời quê ấy, một đi không trở lại”, ánh mắt xa xăm, ông Được nghĩ về cuộc hành trình ra thủ đô. Quãng năm 1967, ông đi bộ đội, chiến đấu tại chiến trường Lào. Bữa ấy, tiểu đội của ông có 5 người đang ở vùng biên giới. Vừa dừng chân nghỉ ở quãng rừng vắng thì bị địch phục kích. “Bốn đồng đội của tôi ngã xuống. Trong tíc tắc, tôi nằm vật ra giả vờ chết. Sau giây phút kinh hoàng, đồng đội đều rời bỏ tôi. Cậu bạn cuối cùng trước khi ra đi, cố dặn tôi tìm về quê cậu ấy ở Nam Hà báo tin cho vợ con. Đêm ấy, tôi vừa khóc vừa gói ghém, đào hố, đặt các cậu ấy nằm cạnh nhau dưới đất sâu. Sợ thú dữ đào bới, tôi khuân đá chặn kín trên mộ. Sau một đêm nằm bên họ thủ thỉ những câu cuối cùng, tôi cũng đành phải chia tay, tìm đường ra khỏi rừng”, ông Được nhớ lại. Nhưng càng đi càng lạc, suốt nhiều ngày tháng sau đó ông lang thang trong rừng, tìm được gì ăn nấy. Cho đến một hôm ra đến cửa rừng, nhìn thấy đồi sắn bạt ngàn mà mừng rơi nước mắt. Ông được bà con dân tộc Vân Kiều ở biên giới Hà Tĩnh bao bọc, sau đó chỉ đường cho ông về quê.

Hòa bình lập lại, từ quê ông quyết tâm ra Bắc theo lời trăng trối của người bạn quê Nam Hà. Rủi thay, sau một đêm nằm ngủ ở ga Vinh (Nghệ An) thì ba lô, mũ cối, dép cao su, sổ ghi chép - những kỉ vật thiêng liêng của đồng đội đều mất cả. Ông lọ mọ ra đến tận Ý Yên, Nam Hà mà không tìm được gia đình của động đội. Hết hy vọng, ông lại nhảy tàu ngược lên Hà Nội. Đó cũng là lần đầu tiên ông đặt chân đến thủ đô, ấy là năm 1978.

Kí ức của ông về Hà Nội thời bao cấp khốn khó trăm bề. Để mưu sinh, ông làm đủ thứ việc. Ban ngày thì xách nước, xếp hàng hứng nước thuê. Tối đến, ông lần tìm ra bờ sông Hồng tắm giặt, rồi căng bạt ngủ ở bãi sông. Cứ thế, ông trở thành một trong những người đầu tiên ngụ cư ở bãi giữa sông Hồng. Rồi những người dân tứ xứ do cuộc sống khốn khó dạt về đây, ghé phận đời nơi mép nước.

Ở cái xóm Phao này, thanh niên đều gọi ông Được là “bố”, xưng “con”, còn bọn trẻ con thì gọi “ông” xưng “cháu”. Ông thì luôn nói: “Tôi đi đâu thì dân của tôi đi đấy. Đất bãi này là của người làng thuộc phường Ngọc Thụy, Long Biên. Dân của tôi chỉ ở nhờ, không có đất trồng trọt, dựng nhà dựng cửa”. “Dân của tôi” – ông thường nói một cách đầy bao bọc như thế với tư cách là trưởng xóm Phao có 30 hộ dân tứ xứ với hơn 100 nhân khẩu. Cái tên xóm Phao cũng là do ông đặt, nghe đã thấy nổi nênh, trôi dạt. Bởi họ sống trong những mái lều nổi trên những thùng phuy sát bờ sông Hồng, quanh năm dập dềnh theo con nước. Tuy cuộc sống tạm bợ trên mặt sông nhưng dân xóm Phao không ai gắn với nghề chài lưới, mà làm đủ thứ việc trên bờ, từ bốc vác, làm thuê đến nhặt đồng nát.

Đến giờ, ông Được được coi là người giàu nhất xóm, là người duy nhất sau bao năm sống dập dềnh trên mặt sông thì đã được ở trên bờ. Ông bỏ tiền dành dụm thuê lại mảnh đất để dựng lều, trồng vài bụi chuối, vài gốc ổi. Dù là tạm bợ, vá víu bằng đủ thứ từ vải bạt, chăn màn cũ, biển quảng cáo, bàn ghế, tủ mà người ta loại thải và vứt đi thì chí ít ông cũng được ở trên đất, đi trên đất.

Trước năm 2000, dân xóm Phao không có giấy tờ tùy thân, trẻ con sinh ra không có hộ khẩu, không có giấy khai sinh, không được đến trường. Điều đó khiến ông trăn trở: “Ở đây chúng tôi sống lay lắt với nhiều cái không: không điện, không nước sạch, nhưng không thể để cái đầu của bọn trẻ rỗng tuếch không chữ nghĩa được”. Ông dựng cái lán trên phần đất của mình làm lớp học và dạy bọn trẻ học chữ. Rồi ông lại nghĩ, chúng không thể quẩn quanh trong lớp xóa mù này mãi được, chúng phải đến trường để học hành bài bản, hòa nhập với thế giới ngoài kia. Rồi ông ra sức động viên các gia đình, cùng họ về quê xác minh lý lịch, làm cơ sở đăng ký giấy khai sinh cho trẻ con.

“Nhờ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, lũ trẻ ở đây đều được đi học rồi. Có cháu lên được đại học, tôi mừng lắm. Chúng nó là tương lai của xóm Phao đấy”, giọng ông khấp khởi.  Căn phòng học ngày trước giờ thành thư viện đọc sách, lớp học tiếng Anh miễn phí cho bọn trẻ vào dịp cuối tuần. Khoảng đất ông thuê, ông dành một phần làm sân chơi. Với sự hỗ trợ của nhiều người tốt, một khu vui chơi sinh động, đầy màu sắc với cầu trượt, xích đu đã được dựng lên. Mảnh vườn này là nơi đáng sống nhất của lũ trẻ ở bãi giữa hoang vu, nghèo đói. Mà không chỉ có bọn trẻ nghèo xóm bãi, mà trẻ con ở phố thị nội thành Hà Nội cũng được bố mẹ, thầy cô đưa sang đây leo trèo, đào đất, tập làm vườn. 

Lòng người ngổn ngang

Xóm này, mỗi nhà mỗi cảnh, nhưng có điểm giống nhau là đều rời quê hương một đi không trở lại. Nhiều cặp vợ chồng nên duyên ở đây, lấy nhau rồi sinh con đẻ cái.  Ông bà Được cũng gặp nhau và về ở với nhau ở bãi giữa này.

Lão ngư xóm Phao giữa sông Hồng -0
Ông Được và cháu trai trước căn lều “xịn” nhất xóm Phao.

Trong căn lều “khang trang” nhất xóm của ông bà Được, tất cả mọi thứ đồng nát sắt vụn đều hiện diện ở đây, đều ghép nối, đan díu lại với nhau. Những thứ người ta không dùng đến nữa, ông gom về, dựng cả phòng khách với bộ ghế sô pha, bể cá xinh xinh và cả lọ hoa nhựa để bàn. Ông bà có với nhau 4 người con, giờ còn 3 đứa, đều rời bãi giữa đi kiếm việc làm và có cuộc sống riêng.

Đến giờ, tim ông vẫn nhói lên khi nghĩ lại buổi trưa hè đầy ám ảnh năm 2004. “Buổi trưa hôm ấy nóng quá, vợ tôi mang con ra sông tắm. Đứa con trai đang bò lê la ở bờ sông, đứa con gái lớn tầm 9-10 tuổi bám chậu tập bơi. Nước liệng vào chậu, chậu chìm, con tôi cũng chìm theo”. Tiếng kêu thất thanh của đứa con gái đau xé lòng. Ông lao xuống tìm con. Vớt xác con lên, đem sang bãi tha ma của làng chôn nhờ. Nỗi đau ấy, ông Được cố ghìm lại, nén xuống tận tâm can. Từ đấy, thấy ai nhảy sông, ai bị đuối nước là ông bơi ra cứu giúp, vì nghĩ họ cũng rơi vào hoàn cảnh đau khổ như mình.

“Trước tôi ở nhà phao ngay chân cầu Long Biên, cứ có người nhảy cầu đánh “ùm” một cái là tôi lao ra giữa dòng nước xiết. Có lần cứu một người đàn bà nhảy cầu, bà ấy vùng vẫy chửi tôi thậm tệ. Sau thì lại nằng nặc đòi ở lại bãi sông này với tôi. Vợ tôi phải tỉ tê hỏi chuyện mãi bà ấy mới khai địa chỉ nhà bên kia sông. Tôi lấy xe đạp đèo bà ấy về tận nhà khi gia đình bà ấy đang đi tìm loạn cả lên. Sau thì họ sang tận bãi giữa này để cảm ơn tôi. Nhiều người cũng vì chịu ơn tôi cứu sống mà xin được làm con nuôi của tôi”, ông Được dí dỏm kể lại.

Ông lão Được người nhỏ bé nhưng sức thì dẻo dai, bơi như rái cá nổi tiếng ở đoạn sông này. Ông kể một lần thấy xác một người phụ nữ trẻ trôi giữa sông, ông kéo vào chôn cất. Kì lạ thay cũng ngày ấy, tháng ấy năm sau lại thấy xác một người con gái trẻ trôi vào quãng sông này, ông lại vớt lên chôn cất. Hơn ba năm sau, ông cải mộ lên, chôn hai cô nằm cạnh nhau. Sau những người đi bơi thường qua lại thắp hương, tôn tạo nhiều lần và đặt là mộ “hai cô”.

Đấy là thời ông còn khỏe. Giờ tuổi đã gần 80, ông đau yếu nhiều, sống nhờ vào vài khóm chuối, vài gốc ổi, thêm quán nước chắt chiu qua ngày. Trong căn lều, ông chỉ bức ảnh ông bế thằng cháu nội được phóng to treo trên vách tôn. “Nó là con thằng út. Vợ chồng chúng nó bỏ nhau, rồi bỏ bãi này mà đi, để lại cho tôi đứa cháu từ khi nó 2 tuổi, nay nó học lớp 2 rồi. Cháu nó bị bệnh tim, nhưng tôi làm gì có tiền mà mổ tim cho cháu bây giờ. Nhiều lúc nó yếu, hay hoảng hốt, giật mình, vợ chồng tôi thương đứt từng khúc ruột”. Rồi ông im lặng, gương mặt già nua, gân guốc bỗng buồn não nề. Ông bảo lòng ông còn lấn cấn, còn muốn làm nhiều việc cho xóm Phao này, nhưng sức đã tàn thành ra lực bất tòng tâm… 

Huyền Châm

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.