Jack Barsky – Điệp viên “hai mang” bất đắc dĩ

FBI đã theo dõi Barsky nhiều năm liền nhưng chưa thể xác định được chắc chắn ông có phải là điệp viên KGB hay không. Việc theo dõi vợ chồng Barsky được tiến hành phối hợp cả với tình báo Anh MI-5 khi vợ chồng họ đến London. Cuối cùng, FBI đã cài máy nghe lén trong nhà Barsky và thu âm được lời thú nhận của ông với vợ.

Sống ở Mỹ bằng cái tên của người đã chết

Vào một buổi sáng lạnh giá tháng 12-1988, như thường lệ chuyên gia phân tích máy tính Jack Barsky đến chỗ làm tại văn phòng nằm trên Đại lộ Madison, khu Manhattan, thành phố New York. Khi bước lên toa tàu điện ngầm, Jack bắt gặp một thứ khiến ông giật mình: đó là một quệt sơn màu đỏ trên một thanh kim loại.

Sáng nào cũng vậy, trên đường đi làm, Barsky đều quan sát tìm kiếm dấu hiệu màu đỏ này. Nó có nghĩa là ông phải quyết định thay đổi cuộc sống, phải quyết định cho nhanh vì chuyện hệ trọng này còn liên quan đến vợ và đứa con gái mới sinh. Cả gia đình Jack trú trong một căn hộ ở khu Queens.

Jack Barsky tại nhà riêng ở Atlanta.
Jack Barsky tại nhà riêng ở Atlanta.

Trong khóa huấn luyện làm điệp viên, Barsky đã được dạy rằng, vệt sơn màu đỏ là một dấu hiệu cảnh báo ông đang trong tình trạng nguy hiểm cấp thời, rằng ông cần phải khẩn trương thu hồi tiền bạc và các thứ giấy tờ quan trọng đang cất giấu tại một điểm bí mật. Sau đó, ông sẽ phải vượt biên giới sang Canada và tìm đến lãnh sự quán Liên Xô tại Toronto.

Tại đây, người của lãnh sự quán sẽ sắp xếp để ông rời Canada trở về Liên Xô. Sau đó ông sẽ không dùng cái tên giả Jack Barsky nữa và quay trở lại là Albrecht Dittrich, một chuyên gia hóa học và là điệp viên KGB, có vợ và một con trai 7 tuổi đang ngày đêm mong đợi ông ở CHDC Đức. Lúc này, Barsky lại nghĩ đến con gái sơ sinh tên Chelsea: Liệu ông có thể rời bỏ nó không? Và nếu không rời bỏ nó, ông có thể lẩn trốn cả KGB và FBI được bao lâu? Rốt cuộc, Barsky không thể rời bỏ Chelsea, như một định mệnh đã an bài.

Jack Barsky tên thật là Albrecht Dittrich, sinh năm 1949 tại một thị trấn nhỏ của CHDC Đức, gần biên giới với Ba Lan. Cha ông là một giáo viên và là một đảng viên trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin. Gia đình là nền tảng tư tưởng chính trị rất quan trọng, và Dittrich chịu ảnh hưởng rất nhiều từ cha mình. Dittrich tốt nghiệp kỹ sư hóa học loại xuất sắc Đại học Jena.

Trong thời gian Dittrich còn học năm thứ 4 đại học, một người đàn ông đến gõ cửa phòng ký túc xá và chào mời Dittrich làm việc cho một công ty sản xuất ống kính máy ảnh tên là Carl Zeiss. Người lạ cũng mau chóng tiết lộ thân phận của mình, ông ta đến từ Bộ An ninh quốc gia CHDC Đức (STASI).

Dittrich được mời ăn trưa tại một nhà hàng và được giới thiệu với một người thứ ba tên là Herman, nói tiếng Đức pha giọng Nga. Herman thông báo: Dittrich đang được quan tâm và chuẩn bị cho một khóa huấn luyện làm điệp viên. Trong nhiều tháng sau đó, Dittrich vẫn đi học bình thường, việc gặp Herman tiến hành theo định kỳ vào sáng thứ hai hàng tuần tại những địa điểm an toàn.

Dittrich tốt nghiệp đại học và đang làm nghiên cứu sinh tiến sĩ thì Herman đưa ông đến Đông Berlin rồi lưu lại đó trong 3 tuần với lời dặn dò là phải phối hợp làm việc với một người tên là Boris. Sau vài tuần huấn luyện, Dittrich được đưa tới một căn cứ quân sự Liên Xô ở ngoại ô Đông Berlin, tại đó Dittrich và Boris được gặp một người được cho là một điệp viên cấp cao của KGB.

Người điệp viên này bảo với Dittrich rằng, Liên Xô cần những điệp viên nhiệt tình, tận tụy, và ông có quyền lựa chọn để quyết định trong vòng có 24 tiếng đồng hồ. Dittrich thừa nhận rằng, lý tưởng không phải là yếu tố động cơ trong quyết định làm điệp viên của ông, mà chính là óc tò mò, muốn khám phá nghề gián điệp “nó ra làm sao” đã thôi thúc Dittrich gật đầu nhận lời chào mời của điệp viên KGB.

Tháng 2-1973, Dittrich nói dối với mẹ rằng mình phải nghỉ học để lên Berlin học thêm ngành ngoại giao, nhưng trên thực tế là Dittrich bắt đầu tham gia khóa huấn luyện điệp viên tại đó. Thường thì những người Đức tham gia khóa huấn luyện được học các tài liệu đã dịch từ tiếng Nga sang tiếng Đức.

Dittrich được dạy về kỹ thuật gửi và nhận tin tức bằng mật mã “moóc-xơ” (morse) và kỹ thuật mật mã để nhận thông tin qua sóng radio. Rồi ông được huấn luyện về cách lẩn tránh việc do thám, theo dõi, cách thức “thả hàng” tại những điểm bí mật và thu hồi chúng khi cần thiết, và một số kỹ năng gián điệp kinh điển. Sau đó, Dittrich được tham gia một khóa học Anh ngữ để hòa nhập vào môi trường công tác ở phương Tây.

Vào năm 1975, ở tuổi 26, lần đầu tiên Dittrich được đưa đến Moskva. Tại đó, ông được kiểm tra và đánh giá khả năng tiếng Anh, chuẩn bị nhận nhiệm vụ. Ngay hôm đó, một nhóm sĩ quan KGB đến nơi ở của Dittrich mở tiệc ăn mừng để chào đón người đồng đội mới tham gia vào chương trình gián điệp tại Mỹ.

Ông được phân công tham gia nhóm những điệp viên bí mật hoạt động trên đất Mỹ (khác với các điệp viên dưới vỏ bọc ngoại giao). Họ được chỉ thị nằm im trong lòng địch trong một khoảng thời gian nhất định để chờ cơ hội hành động. Một điều quan trọng là các điệp viên đó không được biết nhau ngay cả trong thời gian huấn luyện cho đến khi thi hành nhiệm vụ.

Trong thời gian huấn luyện, Dittrich thường được huấn luyện riêng một mình tại căn hộ nơi ở của mình và chưa bao giờ được gặp một nhân viên KGB mặc đồng phục. Khi Dittrich đi dạo phố một mình, KGB đôi khi cử một toán điệp viên theo dõi ông. Nhiệm vụ của Dittrich là phải phát hiện ra khi nào thì có toán điệp viên theo dõi mình, khi nào không. Ngoài ra, Dittrich còn được huấn luyện võ Taekwondo và hoàn thiện kỹ năng nói tiếng Anh.

Khoảng tháng 6-1978, Dittrich hầu như đã sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Để tạo vỏ bọc giả cho Dittrich, các điệp viên KGB đã phải sang tận Mỹ để tìm được cái tên Jack Barsky, một cậu bé đã chết ở Maryland khi mới 10 tuổi, và họ cũng tìm được giấy khai sinh của cậu bé.

Trong khi đó ở Moskva, Dittrich và người quản lý mình bắt đầu nghiên cứu lịch sử cuộc sống của cậu bé: trường học, địa chỉ nơi ở,… cả việc mẹ là người Đức cũng được tạo dựng nhằm làm căn cứ cho chất giọng Đức khi nói chuyện. Với cái tên mới, Jack Barsky được giao nhiệm vụ thiết lập các đầu mối quan hệ với các tổ chức nghiên cứu chính sách đối ngoại, đặc biệt là với ông Zbigniew Brzezinski - cố vấn An ninh quốc gia của Tổng thống Jimmy Carter.

Trước khi rời CHDC Đức đến Moskva, Dittrich đã đoạn tuyệt mối tình đầu với người bạn gái tên Gerlinde. Nhưng khi Dittrich quay trở về trước khi lên đường nhận nhiệm vụ, Gerlinde bảo rằng cô vẫn còn yêu ông. Dittrich hỏi ý kiến tổ chức, và sau khi kiểm tra lý lịch cô gái, các quản lý viên của KGB đồng ý, với điều kiện Dittrich phải kể với Gerlinde một “sự thật” khác, trong khi trước đó mẹ ông đã nhận được giấy báo của chính phủ nói rằng ông được cử đến làm việc 5 năm tại sân bay vũ trụ Baikonur của Liên Xô.

Trước khi lên đường đi Mỹ, Dittrich được yêu cầu viết sẵn một loạt bức thư cho mẹ và em trai, để khi ông đi rồi, những người quản lý của KGB sẽ thay ông gửi thư về cho mẹ và em trai ông, như thể ông thật sự đang làm việc ở Baikonur.

Dittrich mô tả chuyến đi Mỹ của mình như sau: Đầu tiên ông đáp máy bay từ Moskva đến Belgrade (Nam Tư), sau đó đi tàu hỏa đến Rome (Italia) và Vienna (Áo). Tại Áo, ông nhận hộ chiếu Canada với tên gọi là William Dyson. Ông mua vé đi Mexico, rồi từ đây ông đi Canada, sẽ quá cảnh tại Chicago (Mỹ). Barsky đến Chicago vào tháng 10-1978. Hành trang của ông khi đó chỉ là chiếc radio tần số ngắn và 7.000 USD tiền mặt để tiêu xài.

Jack Barsky (thứ hai từ phải sang) và các con của hai người vợ trước.
Jack Barsky (thứ hai từ phải sang) và các con của hai người vợ trước.

Ông nói dối nhân viên di trú ở Chicago rằng, ông chỉ đến Chicago đôi ba ngày để du ngoạn rồi sẽ trở về Canada. Hai ngày sau, Barsky đốt bỏ hộ chiếu Canada, và cái tên William Dyson biến mất hoàn toàn, thay thế bởi cái tên mới cùng giấy tờ khai sinh mới: Jack Barsky. Bắt đầu chuyển đến New York, Barsky tham gia nhiều hoạt động ở địa phương, gia nhập các câu lạc bộ, các hội, làm thẻ thư viện, được cấp giấy phép lái xe, thẻ bảo hiểm xã hội,… Tất cả mọi thứ như một công dân Mỹ bình thường. Nhưng con đường tiếp cận những nhân vật cao cấp còn dài.

Cứ hai năm một lần ông thực hiện chuyến đi về Moskva và CHDC Đức. Mỗi chuyến đi như thế là một loạt thay đổi hộ chiếu và giấy tờ tùy thân được cất giấu tại các địa điểm bí mật. Trong chuyến trở về đầu tiên vào năm 1980, Barsky làm đám cưới với Gerlinde. Vài ngày sau, ông lại lên đường, cởi chiếc nhẫn cưới ra cất kỹ trong hai năm. Nhưng chỉ 9 tháng sau, qua sóng từ chiếc radio, Barsky nhận tin mình được làm bố. Đó là một bé trai kháu khỉnh.

Hai năm sau, ông trở về và gặp được con trai, tên là Matthias Dittrich. Tuy nhiên, việc tạo mối dây tình cảm cha con hết sức khó khăn, do ngày Matthias mở mắt chào đời không thấy mặt cha. Thêm vào đó, tình cảm vợ chồng với Gerlinde cũng phai nhạt dần do lâu ngày xa mặt cách lòng. Barsky hứa hẹn, một ngày nào đó sẽ quay trở về mãi mãi sống bên gia đình.

Thế nhưng, chuyện đời không ai đoán trước được ngày mai sẽ ra sao. Vì Jack Barsky không có mảnh bằng lận lưng nên Barsky phải ghi danh vào học các khóa buổi tối trường Baruch College ở New York. Năm  1984, tốt nghiệp, có bằng cấp, Barsky xin được việc làm lập trình viên tại một công ty bảo hiểm. Như vậy là Barsky đang dần dần hòa nhập vào cuộc sống ở Mỹ.

Hàng tuần ông dành nhiều giờ để giải mã các thông điệp từ Moskva gửi sang. Có những lúc ông được yêu cầu thực hiện một số nhiệm vụ đột xuất, như đi đến một số nơi để tìm những điệp viên Nga khác đang lẩn trốn, đào tẩu hoặc nằm im không thi hành nhiệm vụ nữa rồi báo về trung tâm ở Moskva xử lý.

Việc phản hồi các thông điệp là cả một kỳ công. Đầu tiên Barsky lấy một tờ giấy có tẩm hóa chất đặt lên một tấm kính, rồi một tờ giấy đặc biệt đặt chồng lên, sau nữa là một tờ giấy thường đặt lên trên, và Barsky viết lên tờ giấy thường này và sau đó đốt đi. Chữ viết được in vào tờ giấy tẩm hóa chất bên dưới. Bức thư được gửi đến một địa chỉ ở châu Âu, tại đó nó được một quản lý viên chuyển đến cho một điệp viên KGB và người này sau đó gửi về Moskva qua đường bưu chính ngoại giao, rồi bức thư được đưa vào phòng thí nghiệm để giải mã. Tất cả diễn ra trong 3 tuần.

Chạy hay không chạy?

Ở New York, Barsky không có cách gì để liên lạc với Gerlinde. Cảm giác cô đơn khiến ông dễ dàng tìm đến tình yêu mới. Đó là Penelope, một phụ nữ di cư từ Guyana, đang cần được cưới để tiếp tục ở lại Mỹ.

Hai người cưới nhau và bé gái tên Chelsea chào đời. Trong chuyến trở về Moskva lần cuối vào năm 1986, Barsky được giới thiệu với một sĩ quan tình báo công nghiệp, và người này bảo rằng ông nên bắt đầu chuyển sang lấy trộm bí mật công nghệ của các ngành công nghiệp hiện đại mà Mỹ đang phát triển, đặc biệt là công nghệ thông tin, phần cứng máy tính,… Barsky cung cấp phần mềm của công ty ông đang làm việc, thả hàng tại một điểm bí mật.

Barsky và người vợ sau cùng Shawna với con gái tên Trinity.
Barsky và người vợ sau cùng Shawna với con gái tên Trinity.

Năm 1988, Barsky nhận được thông điệp “lằn sơn màu đỏ” từ KGB bảo ông hãy bỏ trốn. Barsky chưa bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ trốn hay đào tẩu, và càng không muốn đến FBI đầu thú ngay lúc này. Thế là Barsky bỏ qua lời cảnh báo đó. Thêm nhiều thông điệp nữa gửi qua sóng radio với giọng điệu ngày càng căng thẳng. Khoảng hai tuần sau, một người lạ mặt đến gặp Barsky và bảo rằng nếu ông không trở về Moskva thì ông sẽ nhận án tử.

Barsky quyết định ở lại. Ông viết thư trả lời Moskva, bảo rằng ông không thể trở về, vì mắc bệnh hiểm nghèo. Sau đó, Barsky lui vào cuộc sống gia đình, cùng Penelope có thêm một con trai, tên Jessie. Khi hôn nhân có dấu hiệu rạn nứt, Barsky quyết định nói cho vợ biết sự thật việc mình là điệp viên KGB.

Trước đó, FBI đã có thông tin về Barsky sau khi thu thập được các hồ sơ của KGB do một người tên là Vasili Mitrokin cung cấp cho Đại sứ quán Anh tại Riga vào năm 1991. Kể từ đó, FBI đã theo dõi Barsky nhiều năm liền nhưng chưa thể xác định được chắc chắn ông có phải là điệp viên KGB hay không. Việc theo dõi vợ chồng Barsky được tiến hành phối hợp cả với tình báo Anh MI-5 khi vợ chồng họ đến London. Cuối cùng, FBI đã cài máy nghe lén trong nhà Barsky và thu âm được lời thú nhận của ông với vợ.

Barsky bị đặc vụ FBI bắt khi đang lái xe trên đường. Họ yêu cầu Barsky phải lựa chọn, hoặc là hợp tác và trở thành điệp viên cho FBI, nếu không thì đi tù. Barsky mau chóng nhận lời. Năm 2009, ông được cấp thẻ thường trú nhân, và đến năm 2014, trở thành công dân Mỹ, với hộ chiếu chính thức mang tên Jack Barsky.

Nguyên Khang (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.