Hoa sim - tím cả tình yêu...

Những ai từng là lính, nhất là lính biên phòng hẳn đều thuộc bài hát “Hoa sim biên giới” của nhạc sĩ Minh Quang. Không chỉ lời hay, nhạc da diết mà nội dung hình tượng cũng thật đúng với tâm lý những chàng trai trẻ đang thời mơ mộng yêu đương: “Nếu em lên biên giới/ Em sẽ gặp bạt ngàn hoa/ Hoa sim giữa đồi nắng gió/ Tím như ai chờ mong/ Sắc hoa sim yêu thương/ Trong lòng người lính trẻ/ Chờ ai nên tím ngát bồi hồi giữa biên cương…”.

image003.jpg -1
Một cảnh trong vở chèo “Huyền tích một loài hoa”.

Phải được mơ mộng vào những buổi chiều vùng biên giữa mùa xuân, khi nắng vàng rót mật xuống các đồi sim bên kia thung đang nở hoa, lúc ấy mới đẹp nhất và cũng bồn chồn nhất. Phải nhìn lúc ấy mới thấy cả triền sim tím da diết bập bùng trước nắng và gió thấp thoáng bóng các sơn nữ… Thì ra cảnh tiên là có thực… Chiều xuống rất nhanh. Hoàng hôn tím thẫm. Chàng lính ta hết mơ mộng để rồi sâu lắng một nỗi buồn mà tự thầm hát “Màu tím hoa sim” (thơ Hữu Loan): “Chiều hành quân/ Qua những đồi hoa sim/ Những đồi hoa sim/ những đồi hoa sim dài trong chiều không hết/ Màu tím hoa sim/ tím chiều hoang biền biệt…”.

Khi biết bối cảnh ra đời là một bi kịch tình yêu đầy bất ngờ trong thời chiến, bài thơ sẽ càng làm thêm lên sự thổn thức. Nghe tin vợ chết (bà Lê Đỗ Thị Ninh qua đời vì tai nạn ở hậu phương Thanh Hóa năm 1949) khi đang trên đường hành quân, bàng hoàng, xúc động, cõi lòng đau đớn tột cùng ấy đã bật ra những dòng thơ như có máu chảy bên trong: “Tôi ở đơn vị về, cưới nhau xong là đi”. Họ chỉ mới kịp sống đời vợ chồng vỏn vẹn hai tuần...

Với các loại hình nghệ thuật, hoa đã trở thành một biểu trưng mỹ học. Với các nhà thơ, hoa vừa là thi liệu, vừa là nguồn cảm hứng… Rất có thể, để hình thành và nuôi dưỡng những hồn thơ của nhiều thi nhân xứ ta thì phải có hoa sim tím dân dã, tươi mát mà nồng nàn kiêu hãnh… Bởi mọi nơi, đâu cũng có hoa sim. Thời trẻ trâu, chắc ai cũng từng ăn quả sim để rồi cái vị chát chát đi theo suốt đời, rồi cái cảnh trốn tìm dưới bóng các bụi cây lúp xúp ấy, sẽ thèm khát suốt đời…

Mọc tự nhiên hầu như khắp nơi trên thế giới, có tên khoa học là Rhodomyrtus tomentosa, ngoài tên gọi dân gian, hoa sim còn được gọi là hồng sim, cương nhẫm, dương lê, đào kim nương. Người Anh gọi là Isenberg bush, Downy myrtle, Rose myrtle… Ở nước ta, sim mọc nhiều ở miền núi, khắp trên các dãy đồi. Thuộc loại thân gỗ nhỏ màu nâu, mọc thành từng bụi, chiều cao chỉ khoảng 1 - 1,5m. Hoa 5 cánh sắc tím pha ánh hồng, rất nhiều nhị vàng. Có một nét chung là ở đâu hoa sim cũng biểu trưng cho tình yêu. Trong các truyền thuyết thì đó là những bi kịch…

Truyền thuyết Hy Lạp kể, vua Cinyras có người con gái nổi tiếng là công chúa Myrrha. Vì nông nổi với sự kiêu hãnh tuổi trẻ, thời thiếu nữ, Myrrha phạm phải sai lầm chết người là có lần vô lễ với nữ thần Tình yêu Aphrodite. Dù vô cùng xinh đẹp và tài năng nhưng lòng vị tha thì chưa được vô cùng, nữ thần trừng phạt Myrrha rất trái khoáy bằng cách bắt nàng yêu người không được phép yêu, chính là vua Cinyras, tức cha ruột.

Vua Cinyras đã bị lừa để truy hoan cả một tuần với người con gái “chim sa cá lặn” mà ông không biết là ai. Khi nhận ra tội lỗi phạm phải, vừa kinh sợ, vừa đau khổ ông quyết định giết Myrrha. Myrrha phải bỏ trốn đến Ả Rập cầu xin các vị thần cho mình thay đổi hình dạng. Thương tình, họ biến nàng thành cây smyrna, tức cây sim. Nữ thần Tình yêu vẫn chưa hả giận. Mũi tên tàn ác từ cây cung của thần đã bắn tan cây sim ấy để nó bị xé ra thành từng cành nhỏ…

Smyrna, tiếng Hy Lạp cổ nghĩa là cây sim, cũng có nghĩa là công chúa, rất được người Hy Lạp yêu thích, thường trồng xung quanh các đền thờ để tỏ lòng ngưỡng mộ, tôn kính, đi vào văn hóa thành biểu tượng cho hòa bình, viên mãn, hạnh phúc. Ở các lễ cưới người ta dùng hoa sim trang điểm cho cô dâu với hy vọng chúc phúc một tình yêu lâu bền. Không những thế còn là biểu trưng cho quyền lực và sức mạnh nên các quan tòa thành Athen khi ngồi xử án thường lấy hoa sim đội lên đầu.

3(3).jpg -0
Hoa sim.

Truyền thuyết cổ xưa của Việt Nam thì gắn câu chuyện với sự nghiệp giữ nước vốn là một đặc trưng của lịch sử. Xót thương cho dân mình hay bị quân cướp nước từ phương Bắc tràn sang xâm lược gây nên thảm cảnh nước mất nhà tan, tử biệt sinh ly, tình người đau đớn, Ngọc Hoàng Thượng đế bèn phái hai thiên sứ Tử Sim và Tử Mua xuống giúp đỡ dân lành. Một thiên sứ hạ xuống Hoằng Hóa (Thanh Hóa nay) giúp người miền xuôi đồng bằng, thiên sứ còn lại được phái xuống Tuần Giáo (Điện Biên nay) nơi miền núi cao.

Lường trước mọi điều, Thượng Đế dặn hai thiên sứ xuống trần gian để giúp đỡ người dân lầm than trong cơn binh đao, xong việc rồi về Trời, không được phép vướng vào vòng luyến ái nơi trần tục, nếu không sẽ bị hóa kiếp thành thảo mộc mà mãi mãi ở lại trần gian... Hai vị thần xuống trần gian hóa thân thành hai thôn nữ đẹp người đẹp nết, càng cảm thương dân lành phải trải qua nạn chiến tranh, họ càng chăm chỉ giúp người.

Không ngờ mối lo của Thượng đế thành sự thật. Cuộc sống trần gian tuy rất vất vả nhưng vô cùng quyến rũ bởi cái mặn mà, đậm đà của chất sống đời thực khỏe khoắn, tươi rói, khác xa cuộc sống vương giả mà nhạt nhẽo trên thiên giới… Cả hai nàng đã yêu người trần gian. Tử Sim yêu chàng trai sơn cước tên là Thái Sơn. Tử Mua yêu chàng trai lực điền tên Đại Hải miền châu thổ. Thì ra trên trời cảnh đẹp thật nhưng vì thiếu hồn vía, thành ra như là giả, còn trần gian có thể vất vả nhưng là cảnh thật, sống động…

Bọn giặc dữ lại tràn sang. Thái Sơn, Đại Hải phải từ biệt Tử Sim, Tử Mua và dân làng ra chiến trường đuổi giặc. Họ đi mãi, đi mãi… Giống như bao phụ nữ, cứ mỗi chiều hoàng hôn, Tử Sim và Tử Mua lại ra đầu làng, chọn chỗ nào dễ nhìn nhất hướng về phương Bắc mong ngóng bóng dáng chồng yêu trở về. Thượng Đế thương tình và y lời dặn từ trước liền biến họ thành hai loại cây hoa rất đẹp, giống nhau. Tử Sim biến thành cây hoa sim. Tử Mua biến thành cây hoa mua.

Tử Mua sống gần biển mặn mòi nên thân da nhám. Tử Sim sống trên vùng triền núi trong lành thơm tho nên thân da mịn màng, lá cũng trơn mịn và dày hơn. Cả hai loài hoa không kiêu sa lộng lẫy mà đơn sơ khiêm nhường với một sức sống mãnh liệt bất tử nơi đất đai hoang hóa hay triền đá khô cằn, thời tiết khắc nghiệt để dâng đời một màu tím xao xuyến. Hoa cứ mỏng manh nhưng không yếu đuối, ủy mị mà nồng nàn, sâu thẳm như tình yêu tuy ngắn ngủi nhưng đậm đà.

Lại có truyền thuyết “Huyền tích một loài hoa” kể về xuất xứ hoa sim rất cảm động từ câu chuyện tình giữa thái tử Lang Bá và sơn nữ xinh đẹp Hoa Sim. Mối tình không hề “môn đăng hộ đối”, một là thái tử triều đình, giàu có, vương giả và quyền lực; một là thôn nữ sơn cước nghèo khó. Vượt qua mọi định kiến, mọi cản ngăn, vượt qua cả sự hãm hại độc ác của vua Quỷ, họ cưới nhau như một tình yêu biểu tượng cho bình đẳng và dân chủ.

Nhưng khi lên ngôi thì Lang Bá nảy sinh ghen tuông nghi ngờ Hoa Sim thông đồng với bọn quỷ để lừa dối chồng. Hoa Sim chỉ còn biết tìm đến cái chết chứng minh sự trong trắng. Nơi nàng chết mọc lên một loài hoa có màu tím như nói thay cho sự thủy chung, son sắt của một tình yêu. Hiểu tấm lòng trinh bạch của vợ, nhà vua vô cùng hối hận, xót xa liền đặt tên cho loài hoa ấy theo tên người vợ yêu - hoa Sim. “Huyền tích một loài hoa”đã được kịch bản hóa chuyển thể thành vở chèo cùng tên từng rất có tiếng vang (kịch bản Lê Thế Song; kịch bản chèo Lê Chí Trung, đạo diễn Vũ Ngọc Minh).

Ở nước ta hoa sim thường nở từ tháng ba âm lịch, kết trái vào tháng bảy, tám âm lịch. Cách hái sim cũng dân dã, sim chín rộ thì lấy mũ nón hứng rồi lay nhẹ cành là trái rơi xuống. Riêng ở huyện đảo Phú Quốc, chịu sự chi phối của gió biển, khí hậu nên sim lại thường nở hoa vào dịp Tết Nguyên đán. Ở đây có loại hồng sim rất quý dùng làm nguyên liệu nấu rượu – một đặc sản du lịch với mùi thơm chát quyến rũ.

Khó có thể kể hết những câu thơ hay, mộc mạc, cảm động về hoa sim, chỉ biết hoa đã trở thành biểu tượng cho Tổ quốc, cho đất đai xứ sở: “Trời ơi nếu kẻ thù chiếm được/ Chỉ một gốc sim thôi dù chỉ gốc sim cằn/ Tổ quốc sẽ ra sao? Tổ quốc?” (Hữu Thỉnh - “Từ chiến hào tới thành phố”). Thì ra Tổ quốc không chỉ là những gì hoành tráng, hùng vĩ, Tổ quốc còn là những gì rất thân thuộc, giản dị, đơn sơ! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.