Hồ sơ về các đội rà phá dưới nước của Hải quân SEAL trong Thế chiến II

Thập niên 1940, hầu hết vùng nước khổng lồ của đại dương Thái Bình Dương vẫn chưa được khám phá. Dụng cụ và thiết bị quá thô sơ, đại dương quá rộng lớn, nhiều đáy đại dương quá khó khăn để chạm tới. Không có biểu đồ hoặc loại công cụ nào có sẵn khi đó để hướng dẫn tàu bè vào bờ biển địch, và công việc đó đã được đảm giao cho 1.000 trinh sát bơi lội trẻ tuổi của Đội rà phá dưới nước (UDT) của hải quân Mỹ, những người được giao nhiệm vụ do thám các bãi biển địch và phá hủy những tuyến phòng thủ ven biển trước khi quân Đồng minh đổ bộ trong Thế chiến II.

Ngày nay ít người biết đến UDT nhưng di sản của người nhái vẫn sống mãi trong lực lượng hoạt động tinh nhuệ nhất của hải quân Mỹ. SEAL thừa hưởng nhiều kỹ năng và truyền thống từ các bậc tiền bối của thời Thế chiến II, bao gồm rà phá và trinh sát dưới nước, các kỹ thuật lặn “tàng hình”, triển khai mật, làm việc theo từng cặp, và không bao giờ bỏ rơi đồng đội.

Huấn luyện bơi và nín thở cho người nhái

Dưới làn nước trong xanh màu ngọc lục bảo của Maui, những người nhái như George Morgan (một trong những cựu binh UDT sống sót cuối cùng trong thời chiến, nay đã 95 tuổi, từng làm nhân viên cứu hộ ở tiểu bang New Jersey) đã học cách làm thế nào để khảo sát bờ biển của địch, sử dụng chất nổ để phá hủy chướng ngại vật dưới nước, hoặc cho nổ tung rặng san hô nhằm mở đường cho thuyền đi vào. 40% các ứng viên bị đánh rớt trong suốt quá trình huấn luyện.

86-1.jpg -0
Một đội rà phá dưới nước (UDT) của hải quân SEAL với khả năng bơi lặn tài ba đang thực hiện một buổi huấn luyện trong thời kỳ chiến tranh Triều Tiên. Ảnh nguồn: Navy Mil.

Một số trở nên hoảng loạn trên biển, trong khi số khác mất đi sức bền khi bơi chặng xa hoặc kỹ năng bơi theo tiêu chuẩn của UDT: tàng hình. Đề phòng người Nhật phát hiện, những người nhái của UDT được dạy bơi mà không làm bắn nước tung tóe. Người lính Morgan đã học được điều đó thông qua bơi sải và bơi ếch, vì vậy tay chân ông không bao giờ nổi lên mặt nước.

Lực lượng người nhái của UDT cũng thực hành quay đầu khi họ bơi nhằm tránh mặt nạ phản chiếu ánh nắng mặt trời. Họ đã học được cách không bao giờ bay lên trên đỉnh sóng mà chỉ khéo léo nép vào giữa chúng. Khóa huấn luyện chuyên biệt dành cho người nhái được tiến hành lần đầu tiên trước trận chiến Saipan (thuộc mặt trận chiến tranh Thái Bình Dương, diễn ra ngay trên đảo Saipan thuộc quần đảo Mariana từ ngày 15-6-1944 đến ngày 9-7-1944, khi 200 người nhái được giao nhiệm vụ đo độ sâu mực nước của các phương pháp tiếp cận bờ biển, cũng như trinh sát các vị trí gài mìn và phòng thủ ven biển của địch.

Nhiệm vụ ban ngày diễn ra vào ngày 14-6, tức chỉ một ngày trước khi Mỹ tiến đánh đảo Saipan. Những người nhái UDT quét sơn xanh lên người họ để ngụy trang trong vùng đầm phá. Làm việc theo từng “đôi bạn thân” họ thả dây câu nặng xuống đáy biển nhằm đo độ sâu, rồi ghi lại các thông số trên một phiến đá thủy tinh buộc ngay trên đầu gối của mình.

Ở vùng nước nông, người nhái biến cơ thể mình thành những cái thước đo, tự sơn cơ thể họ thành những sọc màu đen cứ mỗi 12 inch trên cổ, thân và chân. Hoạt động quanh đảo Saipan và những hòn đảo khác của Thái Bình Dương, người nhái UDT nhận ra rằng đạn của địch thường bay chậm và bắt đầu chìm trong khoảng vài mét dưới mặt biển, cho phép các thợ lặn nín thở và lặn xuống bên dưới loạt đạn.

Một số người nhái đã bắt được những viên đạn chìm trong các ngón tay và cho vào túi quần làm đồ lưu niệm. Số khác sau đó đã khoan một lỗ xuyên qua những viên đạn bắn tỉa, xâu chúng lại và đeo làm dây chuyền. Lúc đó thiết bị lặn hãy còn trong trứng nước. Một ống thở sẽ khiến người nhái bơi chậm lại, vì vậy UDT đã đưa một thợ lặn mò ngọc trai người bản địa Hawaii để dạy người nhái cách nín thở dưới nước.

Để tìm kiếm ngọc trai, những người thợ mò ngọc trai đã ở lâu dưới nước tới 7 phút. Sở dĩ họ đạt đến kỷ lục đó là khi thực hiện trạng thái nửa ngủ đông, các thợ mò trai ngọc đã biết cách thả lỏng cơ thể của mình, bằng cách làm giảm nhịp tim và huyết áp. Nín thở đã trở thành một cuộc thi phổ biến tại căn cứ Maui của UDT. George Morgan có thể nín thở 2 phút 45 giây. Rất ít người nhái có thể đi quá 4 phút mà không bị choáng ngất, song cũng có 1 người nhái nín thở tới 5 phút 5 giây.

86-2.jpg -0
Trại Maui, ngôi nhà của Sư đoàn thủy quân lục chiến số 4 , từ tháng 2 năm 1944 đến tháng 11 năm 1945. Ảnh nguồn: Maui Historical Society.

Khả năng sáng tạo của người nhái

Do tính chất tiên phong trong công việc mà những người nhái UDT thường buộc phải ứng biến và sáng tạo ra những công cụ mới. Một người nhái đã chế ra cuộn dây câu dùng để đo độ sâu bằng cách hàn các lon sữa bột từ đầu đến cuối, và lắp chúng vào các tấm gỗ nổi trên mặt nước. Trong một thí nghiệm thực địa, một người nhái khác đã nghĩ đến việc giữ cho cầu chì, nắp bắn và que diêm luôn khô trong nước bằng cách gói chúng trong… bao cao su. (Mẹo nhỏ này hoạt động hiệu quả và trở thành một thông lệ tiêu chuẩn.

Người nhái đã xài hàng ngàn bao cao su cho các hoạt động rà phá của họ trước sự kinh ngạc của nhân viên cung ứng hàng hóa của căn cứ Maui). Một thành viên thứ 3 của UDT còn nghĩ ra một cách thông minh khác nhằm ngăn mặt nạ lặn bị mờ: nhổ nước bọt vào mặt nạ, sau đó xoa nó chung với nước biển.

Hàng thập kỷ sau, mẹo chống mờ mặt nạ lặn đã trở thành thông lệ tiêu chuẩn trong số các tay lặn thể thao. Quả là khó khăn cho UDT khi muốn có một số lượng lớn thiết bị. Và mặt nạ cao su có cửa sổ bằng kính đã được dùng chủ yếu cho việc săn cá, lúc đó là một môn thể thao yêu thích. Song cũng chỉ có vài cặp mặt nạ như thế được tìm thấy trong các cửa hàng bán đồ thể thao ở Hawai. Sau đó một sĩ quan bất ngờ đọc một mẩu quảng cáo về các loại mặt nạ lặn trên một tạp chí Mỹ.

Một công văn khẩn cấp đã được gửi tới công ty đồ thể thao và toàn bộ kho hàng của công ty đó đã được bí mật chuyển tới Maui. Vậy bơi bằng cao su cũng hiếm. Chúng được sản xuất lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1939 bởi một người vô địch bơi lội ở Los Angeles tên là Owen Churchill. Nhân chuyến du lịch đảo Tahiti, Owen đã coi những chàng trai địa phương bơi bằng vây bơi cao su được gia cố chắc chắn bằng các dải kim loại (các vây bơi ở Tahiti được làm từ cao su Crepe, một loại mũ cao su được khai thác từ các cây cao su Pará).

Owen tìm tới một nhà phát minh người Pháp (người tự thiết kế cặp vây bơi cho mình)  để đàm phán với ông này về một tấm giấy phép mà từ đó giúp họ liên kết sản xuất bây bơi ở Mỹ và đã bán ra 946 cặp vây bơi trong năm 1940. Phần lớn nhờ vào UDT, Owen Churchill đã bán ra hơn 25.000 cặp vây bơi trong suốt chiến tranh. Nếu bất kỳ vây bơi nào bị thất lạc trôi dạt trên bãi biển địch, người Nhật có thể tìm thấy tên của một dấu tem kỳ lạ “Churchills” cùng với địa chỉ của người tạo ra nó ở Los Angeles: đường số 5, địa chỉ số nhà 3215 Tây Los Angeles. Ngoài ra lực lượng người nhái UDT cũng cần đến một lượng lớn dây câu. Trong mệnh lệnh đầu tiên của mình, chỉ huy trưởng của căn cứ Maui đã phái một trong các sĩ quan của mình đến Trân Châu Cảng để lấy 150 dặm dây câu.

Ngoài công việc rà phá và trinh sát quan trọng, George Morgan tin rằng UDT đã tạo ra sự tự tin cho quân xung kích, với cam kết “họ không bị mù, họ biết tỏng thứ mà mình phải đối mặt”. Người nhái UDT đã tham gia vào hấu hết mọi cuộc tấn công đổ bộ tại Nhà hát Thái Bình Dương. Họ bất chấp hỏa lực dữ dội của địch và những vùng biển hiểm để thực hiện trinh sát trong vùng đầm phá Saipan, những bãi cát đen ở Iwo Jima, cá mập lấp ló trong rặng san hô ở Okinawa và thậm chí là vùng biển lạnh giá của vịnh Tokyo.

86-3.jpg -0
Người nhái UDT trong một bài huấn luyện  để chuẩn bị cho các hoạt động đổ bộ. Ảnh nguồn: Navy Mil .

Căn cứ người nhái Maui, Hawaii

Thời Thế chiến II, Hawaii đóng vai trò là cơ sở huấn luyện, tổ chức và cung cấp chính cho toàn bộ khu vực. Do sự tương đồng về môi trường bên trong Thái Bình Dương mà quần đảo này hoàn toàn thích hợp với các cuộc tập trận tác chiến trong rừng cùng các hoạt động đổ bộ. Trong thời chiến, Maui là trung tâm dàn dựng và cơ sở đào tạo.

Có gần 50 khu vực huấn luyện quân sự khác nhau trên đảo Maui, bao gồm những khóa học bắn lựu đạn thật; các trường bắn súng lục, súng trường và súng máy; một khu vực súng bazooka; một khu vực tìm hiểu tác động của súng cối và pháo binh;  một trận địa pháo trên biển; một khu vực bắn phòng không; các trường bắn chiến đấu để cơ động và bắn xe tăng cùng sự phối hợp đơn lẻ với bộ binh. Maui cũng có các khu vực huấn luyện rộng lớn trong rừng và làng bản mô phỏng, cùng những khóa thực hành chiến đấu trong hang động. Việc huấn luyện được thực hiện cả ngày và đêm, và có thể nhìn thấy những đồn lũy 2 lớp trên khắp hòn đảo.

Mặc dù có nhiều đơn vị ở Maui, song hòn đảo này lại là ngôi nhà của Sư đoàn thủy quân lục chiến số 4 (“Thủy quân lục chiến Maui"). Công trình xây dựng Trại Maui được bắt đầu vào tháng 2-1944. Trại làm nơi cư trú của 18.000 lính thủy đánh bộ của Sư đoàn 4 trong 2 năm. Maui có 2 trạm không hải quân: NAS Pu Unene (sân bay Maui) được đưa vào hoạt động từ năm 1942, và NAS Kahului xây dựng năm 1943.

NAS Pu Unene gồm các cơ sở huấn luyện, các kho đạn dược và bom, và năng lực cho toàn bộ một nhóm tàu sân bay. Năm 1943, Pu Unene  cũng cung cấp các chương trình đào tạo và huấn luyện nâng cao cho các phi công lái chiến cơ, oanh tạc cơ ném ngư lôi và chiến cơ ném bom bổ nhào. Cuối cùng, Maui trở thành nơi huấn luyện đơn lẻ lớn nhất cho các nhóm không hải quân Mỹ.

Những khu huấn luyện đổ bộ mọc lên khắp Thái Bình Dương. Ở Maui, các hoạt động này xoay quanh những vùng nước được bảo vệ và những bãi biển tự do chạy dọc theo duyên hải phía Nam từ cảng Malaea (hoặc Buzz's) đến khu đổ bộ Makena. Những địa điểm huấn luyện  cũng bao gồm Miệng núi lửa Molokini. Công viên Kamaole ở Kihei là địa điểm thời chiến dùng cho Căn cứ thí nghiệm và huấn luyện phá hủy chiến đấu hải quân (UDT), và đối diện là Trung tâm đào tạo đổ bộ Maui, một khu vực hoạt động đầu não.

Một cầu cảng dài nối thẳng ra biển dùng cho các cuộc tập trận. Tàu lớn từ Trân Châu Cảng và Kahului đã tập trung trong vịnh Malaea trong các hoạt động huấn luyện trước các cuộc giao tranh lớn ở Thái Bình Dương, như cuộc xâm lược Tarawa (tháng 11-1943), Roi-Namur (tháng 1-1944), Saipan (tháng 6-1944), và Iwo Jima (tháng 2-1945).

Nguyễn Thanh Hải (Tổng hợp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.