Hình vũ khí trên cửu đỉnh triều Nguyễn

Trong kinh thành Huế, cửu đỉnh đặt trước Thế miếu có vai trò hết sức quan trọng. 162 hình đúc nổi trên chín chiếc đỉnh có vai trò như một bảo tàng trưng bày tất cả hình ảnh tiêu biểu nhất của đất nước.

"Đại Nam thực lục", bộ quốc sử triều Nguyễn, chép: Mùa hạ tháng 5, năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836), đúc xong chín cái đỉnh đồng. Vua bảo Nội các rằng: "Nay đúc đỉnh, khắc các hình tượng núi, sông, và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để tiện nhận xét. Đó là cái ý người xưa vẽ hình mọi vật…".

Hình đại pháo.
Hình đại pháo.

Chín chiếc đỉnh, mỗi đỉnh có 18 hình, tổng cộng là 162 hình ảnh, được chia đều theo từng thể loại, mỗi loại đều được tuyển chọn 9 hình ảnh khác nhau, bao gồm 9 loại tinh tú và hiện tượng thiên nhiên, 9 ngọn núi thiêng, 9 cửa sông lớn, 9 con sông đào, 9 cửa biển, cửa quan, 9 loài thú lớn, 9 loại thú linh thiêng, 9 loài chim, 9 loại cây lương thực, 9 loại cây lấy quả, 9 loại rau, củ, 9 loại hoa, 9 loại dược liệu quý, 9 loại cây gỗ, 9 loại cá, ốc, côn trùng, 9 loại thuyền, xe, cờ, và 9 loại vũ khí.

Có thể xem các hình ảnh được chạm khắc trên cửu đỉnh như một bộ "Dư địa chí", hay một bảo tàng bằng hình ảnh về đất nước ta đầu triều Nguyễn.

Những loại vũ khí nào được đưa lên cửu đỉnh?

Lần lượt trên chín chiếc đỉnh thiêng Vua Minh Mạng cho đúc, dự kiến sẽ tượng trưng cho 9 đời vua từ Vua Gia Long về sau, thể hiện 9 loại vũ khí tiêu biểu của quân đội nước ta thời Nguyễn. Các loại vũ khí đó gồm: Đại pháo (đại bác); luân xa pháo (pháo lớn đặt trên bánh xe di động); súng điểu thương (súng hỏa mai); trường thương (giáo dài); bài đao (bảng gác đao kiếm - siêu đao); nỗ (nỏ); phác đao (đao cán dài);  hỏa đồng phún (ống đồng phun lửa, đốt hỏa lệnh); hồ điệp tử (đạn bươm bướm).

Hình điểu thương.
Hình điểu thương.

Các loại vũ khí tiêu biểu này có thể được chia làm ba loại, gồm vũ khí lạnh, dùng trong cận chiến, gồm bài đao, phác đao, trường thương; vũ khí sát thương từ xa gồm nỏ và súng điểu thương; sau đó là các loại hỏa khí, như đại pháo, luân xa pháo, ống đồng phun lửa và đạn bươm bướm.

Kiếm, đao, thương là những vũ khí cầm tay truyền thống thường được sử dụng trong lịch sử quân đội các nước châu Á. Trên Cửu đỉnh, kiếm được đúc ở Thuần đỉnh, nhưng không được thể hiện đơn lẻ mà theo đôi trên "bài đao", là giá gác đao, kiếm, như thường thấy trong dinh thự hay trướng của các võ tướng. Hai thanh kiếm trên "bài đao" vẫn còn nguyên trong vỏ chứ chưa tuốt lưỡi.

Cũng như kiếm, các loại vũ khí khác trên Cửu đỉnh đều được thể hiện trong tư thế trưng bày chứ không phải tư thế nghênh chiến. Bộ đao được thể hiện trên Dụ đỉnh theo bộ 4 chiếc, với tên gọi "phác đao", là đao có cán dài, đều đang trong tư thế sẵn sàng, đầu cán cắm xuống đất, mũi đao hướng lên trời.

Hình hồ điệp tử (đạn bươm bướm).
Hình hồ điệp tử (đạn bươm bướm).

"Trường thương", tức giáo dài, loại vũ khí cơ bản của quân đội nước ta thời phong kiến, được thể hiện trên Nghị đỉnh. Hình ảnh bộ thương cũng được cắm 4 chiếc song song trên giá, dưới mỗi mũi thương sát với cán đều có đính ngù.

"Nỗ", tức nỏ, được đúc trên Tuyên đỉnh, với tư thế buông dây, bên cạnh là ống tên. Còn súng điểu thương, được đúc trên Chương đỉnh, được thể hiện thành một cặp, đặt trên giá với tư thế nằm ngang. Điều đặc biệt, hai khẩu súng này đều gắn lưỡi lê nhọn.

Súng điểu thương gắn với vua Gia Long

Súng điểu thương hay còn gọi là súng hỏa mai, là loại vũ khí khá hiện đại thời cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn. Súng có tên như vậy do hình dáng dài kèm lưỡi lê giống chiếc thương (giáo). Phần cần điểm hỏa có hình dáng như con chim (điểu), nên súng này ở nước ta được gọi là súng điểu thương.

Không chỉ binh lính, mà chính Vua Gia Long cũng được mô tả là bắn súng điểu thương rất điệu nghệ. Bộ sử "Quốc triều chính biên toát yếu" do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, viết: "Tháng 3, Nhâm Dần, năm thứ 3 (năm 1782, tính từ năm Nguyễn Ánh lên ngôi vương ở Gia Định), quân Tây Sơn chiếm lấy Sài Gòn. Lúc lâm trận, ngài (chúa Nguyễn Ánh) bắn súng điểu thương hay lắm, bắn đâu trúng đó".

Sau khi đánh tan quân Tây Sơn và lên ngôi Hoàng đế, khẩu súng điểu thương của Vua Gia Long được lưu giữ để làm kỷ niệm. Sách "Quốc triều chính biên toát yếu" viết tiếp: "Khẩu súng của ngài, đến triều Minh Mạng, được phong là Võ công lương khí, được tống tàng cùng áo nhung nón chiến của ngài ở trong điện". Nhưng khẩu súng này cũng như vô số vàng bạc châu báu, cổ vật của triều Nguyễn đã bị quân Pháp cướp mất sau sự biến kinh thành thất thủ năm 1885.

Hình ảnh một lễ hội cung đình triều Nguyễn - Ảnh tư liệu.
Hình ảnh một lễ hội cung đình triều Nguyễn - Ảnh tư liệu.

Mặc dù vậy, số lượng súng điểu thương mà quân đội nhà Nguyễn sở hữu không nhiều. Thời chúa Nguyễn Ánh còn ở Nam bộ, sử viết ông thông qua các thương nhân người nước ngoài, nhờ mua được 10.000 khẩu súng điểu thương. Sau thời Vua Gia Long, do quốc khố còn phải chi dụng cho rất nhiều vấn đề của đất nước, nên chi tiêu cho vũ khí không được tập trung nữa.

Đến thời Vua Tự Đức, người Pháp ước lượng trung bình cứ 10 lính nhà Nguyễn thì chỉ có 1 người là có súng hỏa mai. Do đó, trong các trận đánh chống quân Pháp có đại bác, súng trường hiện đại với nòng đúc xoáy khiến đạn đạt tỷ lệ sát thương cao hơn, quân đội nhà Nguyễn nhanh chóng thất thủ.

Các loại hỏa khí

Trong số các loại vũ khí hỏa lực của quân đội thời Nguyễn được thể hiện trên Cửu đỉnh, "đại pháo", hay thần công, là loại vũ khí có tính biểu tượng cao nhất. Trước các dinh thự quan trọng của nhà Nguyễn thường bày hai khẩu thần công để thị uy. Vua Gia Long, sau khi chiến thắng nhà Tây Sơn, đã thu thập binh khí và vật dụng bằng đồng để đúc "Cửu vị thần công" bày trước Ngọ môn để ghi chiến tích. Các khẩu thần công này còn được Vua Gia Long phong tước vị Đại tướng quân.

Quân đội triều Nguyễn - Ảnh tư liệu.
Quân đội triều Nguyễn - Ảnh tư liệu.

Tuy nhiên, khi quân Pháp sang xâm lược, số thần công của quân đội triều Nguyễn không thể chống chọi lại với những loại đại bác hiện đại của quân địch, nên thất bại rất nhanh chóng, lần lượt từ Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, rồi sau đó đến kinh thành Huế trong sự kiện Tôn Thất Thuyết và Vua Hàm Nghi dấy binh đánh Pháp.

Lúc Vua Đồng Khánh lên ngôi, phía Pháp đề nghị trả lại 9 khẩu đại bác bằng đồng Đại tướng quân, còn lại hơn 600 khẩu chúng thu được ở kinh thành thì giao cho nước ta nhận lấy rồi trả bằng tiền, tổng cộng hơn 2 vạn 500 đồng bạc.

Các khẩu đại pháo được đúc trên Cao đỉnh với hình ảnh đặt trên giá gỗ, có bốn bánh đúc kim loại. Còn trên Nhân đỉnh, là hình ảnh những cỗ Luân xa pháo, tức đại bác cơ động bánh xe lớn có nan hoa. Đây là loại súng xuất phát từ phương Tây, mà các đoàn quân Tây Ban Nha, Pháp sử dụng khi tấn công nước ta cuối thế kỷ 19. Đại bác thông dụng hồi đầu thế kỷ 19 thường có các cỡ nòng 20, 40mm.

Sau hai loại đại bác là hỏa đồng phún (ống đồng phun lửa, đốt hỏa lệnh), được thể hiện trên Huyền đỉnh, theo một bộ 4 chiếc, mỗi chiếc có hình dáng như chiếc pháo thăng thiên, có tay cầm và ống đựng thuốc súng bằng đồng. Hỏa đồng phún không chỉ để phát hiệu lệnh mà còn có tác dụng phun lửa thiêu đốt địch quân, doanh trại, nhà cửa. Trong bốn chiếc hỏa đồng phún được đúc ở Huyền đỉnh, hai chiếc bên trái được thể hiện trong tư thế chuẩn bị, trong khi hai chiếc bên phải trong tư thế đang phun lửa.

Cuối cùng trong số các vũ khí hỏa lực được thể hiện trên Cửu đỉnh là đạn hồ điệp, được đúc trên Anh đỉnh. Loại đạn này có tên gọi "hồ điệp tử", tức con bươm bướm, vì dáng của nó gồm hai nửa bán cầu bằng gang nối với nhau bằng đoạn xích sắt ngắn. Đạn được bắn bằng thần công, khi ra khỏi nòng nở tung ra giống tổ kén của bươm bướm, khi rơi xuống địch quân, có tính sát thương rộng hơn đạn gang thông thường.

Các vũ khí trợ chiến khác

Bên cạnh các vũ khí cầm tay và hỏa lực, trong số 162 hình ảnh trên Cửu đỉnh, còn có những loại vũ khí trợ chiến khác. Ngoài voi và ngựa, được thể hiện theo danh sách các loài thú nhưng luôn xuất hiện trong biên chế quân đội nước ta, trên các đỉnh còn được đúc hình ảnh các loại chiến thuyền thịnh hành từ thời các chúa Nguyễn cho đến thời các vua đầu triều Nguyễn.

Trừ "lâu thuyền" (thuyền lầu 2 tầng dành để các vị vua, chúa nhà Nguyễn đi du ngoạn) hay "đa tác thuyền" (thuyền có 3 cột buồm, dùng cả trong quân sự và vận tải, có thể bọc đồng và trang bị đại bác lớn), các loại chiến thuyền được thể hiện trên các đỉnh quý bao gồm mông đồng thuyền, hải đạo, đỉnh, lê thuyền và ô thuyền.

Trong đó, mông đồng thuyền khắc trên Chương đỉnh, là loại thuyền chiến đấu có nhiều tay chèo, trang bị nỏ, có mái gỗ che tên đạn.

Hải đạo là loại thuyền đi biển linh hoạt trong chiến đấu và diễn tập trên sông nước, được đúc trên Nghị đỉnh, với hình ảnh 14 mái chèo. Trong khi đó, "đỉnh" được đúc trên Thuần đỉnh, là loại thuyền thon nhỏ, nhiều tay chèo, vừa dùng để đua trong các lễ cầu mưa, các ngày lễ hội, vừa dùng trong chiến đấu được trang bị cho quân đội nhà Nguyễn. Thuyền này có tốc độ rất nhanh, hoạt động thuận tiện trên tất cả các loại hình đường thủy.

Trên Tuyên đỉnh, chiếc "lê thuyền" được khắc hình. Đây là loại thuyền nhỏ có 12 tay chèo. "Ô thuyền", loại thuyền sơn đen, có buồm đen, cũng có thêm 12 tay chèo, chuyên dùng trang bị tuần tiễu dọc bờ biển, được khắc trên Dụ đỉnh.

Ngoài ra, một số công trình quân sự khác cũng được đưa lên hệ thống cửu đỉnh, như các cửa ải Hoành sơn, Hải vân, đặc biệt là "Đà Nẵng hải khẩu" được khắc trên Dụ đỉnh, với hình ảnh hai pháo đài Điện Hải, An Hải được thể hiện nổi bật hai bên cửa sông Hàn.

Lê Tiên Long

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.