Kỷ niệm 70 năm ngày ký Hiệp định sơ bộ Pháp - Việt (6/3/1946 - 6/3/2016):

Hiệp định Pháp - Việt: Văn bản pháp lý ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH) ra đời, tình hình ngày càng nguy cấp không chỉ vì nạn đói, nạn dốt hoành hành mà chúng ta còn bị các nước đế quốc đưa lực lượng quân sự hỗn hợp vào dưới danh nghĩa quân Đồng minh giải giáp phát xít Nhật. Ở miền Bắc, hơn 20 vạn quân Tưởng kéo vào đóng quân từ biên giới Việt-Trung đến vĩ tuyến 16. Ở miền Nam, quân Anh kéo vào giúp quân Pháp và trang bị cả vũ khí cho quân Nhật để tiếp sức cho Pháp.

Các thế lực của Anh, Mỹ, Trung Hoa dân quốc lăm le dùng sức mạnh của vũ khí hiện đại để tạo điều kiện cho Pháp quay lại thống trị Đông Dương. Chính phủ Anh kêu gọi Chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch "tạo mọi dễ dàng cho lực lượng Pháp và các quan chức cai trị của Pháp trở lại Đông Dương càng sớm càng tốt". Ủy ban Đối ngoại của Mỹ cũng cho biết "không muốn áp đặt một sự kiểm soát nào nhưng sẵn sàng giúp đỡ Pháp nếu họ cần".

Chính quyền Tưởng đang lo đối phó với nội chiến nên cũng tuyên bố "không hề có tham vọng về lãnh thổ đối với Việt Nam", vì thế Pháp ra sức ve vãn, thương thuyết với Tưởng để gấp rút thâu tóm Đông Dương. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thấy rất rõ mưu đồ tái xâm lược của Pháp nhưng vẫn kiên trì thực hiện chính sách "hòa để tiến" vì: Chúng ta cần hòa bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta buộc lòng nhân nhượng để giữ hòa bình.

Bắt đầu từ ngày 15/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp J.Sainteny (Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Việt Nam, nhân vật đối thoại chính) và Caput (đảng viên đảng Xã hội Pháp, người trung gian) để bắt đầu tiến trình đàm phán hòa bình Việt - Pháp. Nhiều lần, cuộc đàm phán bị bế tắc, ngừng lại thì hai bên lại nhờ trung gian chắp nối gặp gỡ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại diện quốc tế tham dự lễ ký Hiệp định sơ bộ chụp ảnh lưu niệm trước nhà 38 Lý Thái Tổ sau lễ ký.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đại diện quốc tế tham dự lễ ký Hiệp định sơ bộ chụp ảnh lưu niệm trước nhà 38 Lý Thái Tổ sau lễ ký.

Quá trình đàm phán diễn ra rất căng thẳng, như thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong hồi ký: "Sainteny tuyên bố quyết không từ bỏ bất cứ cơ hội nào để lập lại quyền lợi chính đáng của nước Pháp trên mảnh đất này nên khăng khăng giữ vững lập trường thực dân. Bác cũng tranh luận từng câu, từng chữ nhưng rất kiên quyết trong tinh thần bảo vệ nguyện vọng thiêng liêng của nhân dân Việt Nam.

Trong các cuộc hội đàm, Bác hút thuốc liên tục, có khi hút cả loại Gauloises nặng của Pháp để trên bàn họp. Pignon cũng rít thuốc liên miên, còn Sainteny thì không lúc nào ngừng phì phèo cái tẩu. Khói quẩn quanh mù mịt trong phòng. Những hôm họp căng thẳng quá, Bác hút nhiều, buổi tối về ho suốt. Tôi khuyên Bác bớt hút thuốc thì Bác nói: Mình phải hút nhiều để họ tưởng mình suy nghĩ lung lắm. Kỳ thực, quanh quẩn vẫn là lập trường ban đầu, họ cũng vậy mà mình cũng vậy, nhưng mình chủ động, còn họ bị động".

Cuối tháng 1/1946, quân đội Anh rút khỏi Đông Dương và coi như giao lại miền Nam Việt Nam cho quân Pháp. Ngay sau đó, cao ủy Pháp D'Argenlieur phái tướng Salan sang thương lượng với chính quyền Tưởng ở Trùng Khánh để đổ quân vào miền Bắc Việt Nam.

Ngày 16/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cuộc gặp với J.Sainteny thảo luận về những vấn đề chính trị mấu chốt để đi tới một bản hiệp định chính thức. Hai bên đã đồng ý dùng từ "Chính phủ tự quyết" thay cho "tự do của Chính phủ" và "tự do trong Liên hiệp Pháp".

J.Sainteny viết trong hồi ký: "Hồ Chí Minh và các cố vấn của ông tranh luận với tôi từng câu từng chữ để đi tới bản Hiệp định Pháp-Việt. Đã bao lần chúng tôi có cảm tưởng không thể nào đạt được thỏa thuận, cảm giác thất vọng vì chúng tôi không bao giờ có được tiếng nói chung. Hồ Chí Minh yêu cầu phải được suy nghĩ cẩn thận, phải tham khảo ý kiến các cộng sự, các cố vấn. Về phía tôi, tôi cũng phải thường xuyên hỏi ý kiến Phủ Cao ủy đặt tại Sài Gòn trước khi chấp nhận một câu, một chữ trong đàm phán. Chỉ riêng việc định nghĩa nội dung từ Độc Lập đã làm những cuộc đối thoại giữa chúng tôi vấp váp nhiều nhất và nhiều lần đứt đoạn. Những cuộc đối thoại đứt đoạn này kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần cho tới khi một người trung gian có nhiều thiện chí đã tìm cách để những người đối thoại Pháp-Việt giáp mặt nhau, đó là Louis Caput. Mãi tới ngày 16/2, sau một cuộc họp kéo dài vừa mới được nối lại, lần đầu tiên chúng tôi mới có cảm giác là có khả năng đạt được thỏa thuận".

Sau nhiều lần mặc cả về quyền lợi, ngày 28/2/1946, Hiệp ước Hoa-Pháp được ký tại Trùng Khánh, chấp nhận cho Pháp đem quân vào thay thế quân Tưởng ở Bắc Đông Dương và để đổi lại, Pháp trả cho Tưởng các tô giới Pháp ở Trung Quốc cùng tuyến đường xe lửa Vân Nam và hàng hóa của Tưởng qua cảng Hải Phòng sẽ được miễn thuế.

Trên thực tế, sau khi đã có Hiệp ước này, quân Tưởng vẫn ép ta cải tổ Chính phủ để đưa thêm tay chân của chúng vào và thực chất vẫn nấn ná ở lại Đông Dương để vừa bảo vệ cho sườn phía nam Trung Hoa dân quốc, vừa tạo cớ đưa ra thêm yêu sách mới cho Pháp. Trong khi người Pháp hối thúc việc thi hành thỏa ước 28/2 và sốt ruột đưa quân vào miền Bắc Việt Nam thay thế quân Tưởng từ 1/3 và hoàn tất chuyển giao ngày 31/3/1946 thì cá nhân Tổng Tư lệnh quân đội Tưởng ở Bắc Việt Nam Lư Hán rất bất bình với Hiệp định Hoa-Pháp, mặc dù quân Tưởng vẫn được nhiều lợi ích.

Với ảo mộng bành trướng, Lư Hán cho rằng với tổ chức Việt Nam quốc dân đảng, ông ta sẽ dựng lên một chính quyền thân dân quốc tại Việt Nam nên cứ lờ đi yêu cầu của phía Pháp cho họ đổ quân vào Hải Phòng ngày 9/3. Do vậy, quan hệ giữa Pháp và Tưởng nhanh chóng trở nên căng thẳng.

Trước tình hình đó, chúng ta chỉ có mấy lựa chọn: Dựa vào lực lượng quốc tế nào đó để ngăn Pháp quay lại chiếm Việt Nam, một quốc gia có chủ quyền, độc lập (điều này gần như là không thể trong bối cảnh quốc tế rối ren sau thế chiến lúc đó); Phát động ngay cuộc chiến tranh chống Pháp trong khi còn quân Tưởng và quân Nhật (điều này chắc chắn không thành công vì tiềm lực kinh tế, quân sự của ta hầu như chưa chuẩn bị được gì); Thỏa hiệp với Tưởng để kiềm chế Pháp (nhưng cuộc nội chiến Quốc - Cộng ở trong nước không thể tạo điều kiện cho quân Tưởng ủng hộ ta); Và cuối cùng là thỏa hiệp với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước (vấn đề này sẽ tạo cơ hội cho bọn phản động thân Tưởng tuyên truyền, vu cáo Chính phủ phản quốc và cũng tạo cớ cho Pháp đưa quân vào Việt Nam).

Trong bối cảnh đó, Đảng và Chính phủ đã xác định rõ lập trường: "Giảng hòa của ta đối với Pháp là độc lập nhưng liên minh với Pháp. Pháp thừa nhận quyền dân tộc tự quyết của dân ta và sự thống nhất quốc gia. Ta có thể cho Pháp quyền đóng quân trên đất nước ta nhưng chỉ tạm thời và có hạn".

Sáng ngày 4/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp đầu tiên của Chính phủ liên hiệp kháng chiến bàn về các vấn đề hệ trọng và các nguyên tắc đàm phán với Pháp trên cơ sở Việt Nam độc lập và Chính phủ cử ra một tiểu ban nghiên cứu những điều kiện của ta trong đàm phán. Chiều cùng ngày, Người họp với các phóng viên Việt Nam để bác bỏ những tin bịa đặt đồn đại về cuộc đàm phán Việt-Pháp đang gây hoang mang và kích động quần chúng. Người vẫn nhắc nhân dân phải luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và kháng chiến đến cùng.

Trong ngày, Người cũng trao đổi với Sainteny về vấn đề Nam Bộ. Sáng ngày 5/3, báo Cứu Quốc đăng tuyên bố ba điểm trong chính sách đối ngoại của Chính phủ ta: "Đối với các nước Đồng minh, nước Việt Nam bao giờ cũng chủ trương thân thiện, nhất là đối với Trung Hoa; Đối với các quốc gia nhược tiểu đang chiến đấu giành độc lập thì dân tộc Việt Nam rất đồng tình; Đối với dân Pháp, dân Việt Nam không thù hằn gì nhưng cực lực phản đối chế độ thực dân và cương quyết giữ quyền độc lập. Chính phủ Việt Nam chỉ nhận điều đình với Chính phủ Pháp theo nguyên tắc "dân tộc tự quyết" của Hiến chương Đại Tây Dương".

Sáng cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh về làng Hậu Ái, Hoài Đức, Hà Tây dự hội nghị bất thường của BCH TƯ Đảng bàn về chủ trương thương lượng với Pháp. Buổi tối, Người làm việc rất khuya với J. Sainteny, ông này nhớ lại: "Theo dự kiến, Hiệp định sẽ được ký kết chậm nhất là vào đêm ngày 5 rạng ngày 6/3 nhưng mãi tới nửa đêm, các nhà thương lượng đôi bên vẫn còn sa lầy trong bế tắc. Pignon và tôi rút về nhà riêng sau khi đề nghị Hồ Chí Minh suy nghĩ thêm. Tôi cũng nói rất rõ với Hồ Chí Minh là để đến hôm sau nữa thì chắc chắn sẽ quá chậm vì các tàu chiến của Pháp chở Leclerc và đội quân viễn chinh tăng viện đã đến sát bờ biển Bắc kỳ. Trong khi đó chập tối 5/3, Leclerc đã cho người mang đến tôi một lá thư riêng, đề nghị tôi bằng bất cứ giá nào cũng phải đi đến ký kết vì Leclerc đã được mật báo về những ý đồ từ chỉ huy quân đội của Lư Hán chiếm giữ Bắc kỳ đang muốn chống lại quân Pháp đổ bộ".

Chủ tịch Hồ Chí Minh và J. Sainteny nghe đọc nội dung bản Hiệp định sơ bộ trước khi ký kết chính thức, ngày 6/3/1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và J. Sainteny nghe đọc nội dung bản Hiệp định sơ bộ trước khi ký kết chính thức, ngày 6/3/1946.

Sáng sớm ngày 6/3, quân Pháp đổ bộ vào Hải Phòng đã bị quân Tưởng ngăn cản và hai bên nổ súng bắn nhau đến tận đầu giờ chiều. 8 giờ 30 sáng cùng ngày tại Bộ Nội vụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp Hội đồng Chính phủ nghe báo cáo về công tác ngoại giao và Dự thảo nội dung Hiệp định sơ bộ sẽ ký với Pháp. Hội đồng Chính phủ đã ký một biên bản đặc biệt tán thành ký Hiệp định đình chiến và mở cuộc đàm phán chính thức với Chính phủ Pháp với điều kiện Pháp công nhận nước Việt Nam DCCH là một quốc gia tự do và Chính phủ Việt Nam bằng lòng để quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa.

Lúc 12 giờ 30, Chủ tịch Hồ Chí Minh và ông Hoàng Minh Giám gặp Sainteny và Pignon tiếp tục tranh luận về những điều khoản của bản Hiệp định và hai bên thống nhất buổi chiều sẽ ký kết chính thức. Lúc 16 giờ 30 tại số nhà 38 Lý Thái Tổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam DCCH và J. Sainteny đại diện Chính phủ Pháp đã ký vào bản Hiệp định sơ bộ. Hiệp định này khẳng định nước Việt Nam DCCH là quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, quân đội, tài chính của mình; việc hợp nhất ba kỳ do nhân dân Việt Nam trực tiếp giải quyết.

Kèm theo Hiệp định là một điều khoản phụ về các vấn đề quân sự gồm bốn điều quy định lực lượng tiếp phòng thay thế quân Trung Hoa gồm 15.000 quân Pháp và 10.000 quân Việt Nam. Số quân Pháp sẽ được quân Việt Nam thay thế theo tỷ lệ 1/5 mỗi năm và hoàn thành trong 5 năm. Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại buổi lễ ký Hiệp định: "Chúng tôi không thỏa mãn vì chưa giành được hoàn toàn độc lập, nhưng chúng tôi sẽ giành được độc lập hoàn toàn".

J Sainteny kể lại: "Quan sát viên các nước Đồng minh: Anh, Mỹ, Hoa và cả Pháp nữa vì Hồ Chí Minh muốn, Caput cũng được mời tới dự. Tôi được cử thay mặt Cao ủy Pháp ở Đông Dương, cùng đi với tôi có tướng Salan, Pignon và vài cộng sự viên cơ quan Cao ủy Pháp tại Hà Nội. Bản Hiệp định được đọc to  trước mặt cử tọa đứng trong phòng. Hồ Chí Minh ký đầu tiên, liền sau đó Vũ Hồng Khanh cũng đặt bút ký. Hồ Chí Minh đã buộc một người khét tiếng chống Pháp, cầm đầu một lực lượng đối lập hiếu chiến phải ký tên dưới chữ ký của ông để coi đó như một đảm bảo chống lại luận điệu tuyên truyền xuyên tạc là ông phản bội sự nghiệp giành độc lập của Việt Nam" rồi đến lượt tôi ký thay mặt nước Pháp".

Lúc 18 giờ tại Bắc Bộ Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố với đại diện các báo hằng ngày về bản Hiệp định vừa ký. Và hồi 10 giờ ngày 7/3, tại cuộc mít tinh của đông đảo nhân dân Thủ đô trước Nhà hát lớn thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về Hiệp định sơ bộ 6/3: "Nước ta đã độc lập thật sự từ tháng 8/1945 nhưng tới nay chưa một cường quốc nào công nhận nền độc lập của ta. Cuộc điều đình với nước Pháp sẽ mở ra con đường làm cho quốc tế thừa nhận ta. Nó sẽ dẫn ta đến một vị trí ngày càng chắc chắn trên trường quốc tế. Đó là một thắng lợi về mặt chính trị... Đồng bào nên bình tĩnh, đoàn kết, trọng kỷ luật...".

Người im lặng giây lát rồi tuyên bố: "Tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt đời đã cùng đồng bào chiến đấu cho độc lập của Tổ quốc. Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước".

Cuộc đàm phán Việt-Pháp diễn ra từ cuối 1945 đến đầu 1946 và dẫn đến Hiệp định sơ bộ 6/3 là một quyết sách chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cứu vãn tình thế nguy cấp, tránh được nguy cơ đất nước phải chống chọi với nhiều kẻ thù cùng một lúc, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng mới giành được. Với bản Hiệp định sơ bộ này, chúng ta đã biến thỏa hiệp áp đặt Pháp-Hoa thành bản thỏa thuận tay ba, làm thất bại cuộc mặc cả bá quyền của hai nước lớn, khiến cuộc đổ bộ của quân Pháp xâm chiếm nước ta thành một cuộc hành quân được sự dồng ý của Chính phủ Việt Nam.

Hiệp định này đã cho chúng ta thêm một khoảng thời gian hòa hoãn với Pháp để củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng và đẩy nhanh 20 vạn quân Tưởng cùng bè lũ tay sai ra khỏi đất nước. Hiệp định 6/3 là văn bản pháp lý đầu tiên mà nước Việt Nam DCCH ký với nước ngoài với tư cách là một nhà nước có chủ quyền, mở ra phương thức giao tiếp, thương lượng bình đẳng giữa Việt Nam với Pháp về sau và thực tế chỉ hai tháng sau, lá cờ đỏ sao vàng của ta đã tung bay tại Paris, thủ đô nước Pháp.

Đỗ Hoàng Linh (Phó Giám đốc Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.