Hành trình ngàn dặm của “hàng xách tay” dưới triều Nguyễn

Các phái bộ thời quân chủ nước ta sang các nước, chủ yếu là Trung Hoa với mục đích chính trị, ngoại giao. Bên cạnh đó, họ còn kiêm thêm hoạt động thương mại. Hàng hóa đã theo chân các phái bộ sang Trung Hoa và về nước ta như thế nào?

Những mặt hàng nào được ưa chuộng? Triều đình có quy định thế nào về việc này? Cùng với bộ chính sử của triều đình, khối văn bản hành chính - Châu bản triều Nguyễn (hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I) đã hé lộ cho hậu thế nhiều điều thú vị.

Đi nhiều nước, mua nhiều hàng

Ngoài các đoàn được cử đi với mục đích mua hàng thì tài liệu cho thấy các sứ bộ ngoại giao, công vụ triều Nguyễn cũng thường mang theo sản vật để đổi lấy hàng hóa nước ngoài, như lời của Vua Minh Mạng được Quốc Sử quán ghi lại trong “Đại Nam thực lục” là “lấy thứ có đổi thứ không có, xưa nay vẫn thế”.

Hành trình ngàn dặm của “hàng xách tay” dưới triều Nguyễn -0
Ải Nam Quan.

Sách “Đại Nam thực lục” chép rằng triều Minh Mạng còn quy định rõ các mức thưởng cho phái bộ khi đi công cán nước ngoài mua được nhiều hàng: Khi công cán về, những hàng hoáa mua được mang về nộp, đều chiểu theo thanh đơn (đơn kê mua hàng) và đều lấy “100 thành” làm mức xác định. Như đi Tiểu Tây Dương là nơi hàng hóa tương đối nhiều, mua được 60 thành trở lên là hạng ưu, mua được 50 thành trở lên là hạng bình, 40 thành trở lên là hạng thứ, dưới 40 thành là hạng kém, với các mức thưởng phạt tương ứng.

Đi Lã Tống (Philippin), Giang Lưu Ba (Gia Các Ta, thủ đô Nam Dương, nay là Indonesia) là chỗ hàng hóa khá sẵn, mua được 50 thành trở lên là hạng ưu, 40 thành trở lên là hạng bình, 30 thành trở lên là hạng thứ, dưới 30 thành là hạng kém, cách thưởng phạt cũng theo như đi Tiểu Tây Dương.

Đi Tân Gia Ba (Singapore), Ma Lục Giáp (Malacca, Malaysia), đảo Tân Lang (đảo Penang) là những nơi hàng hóa ít, mua được 40 thành trở lên là hạng ưu, 30 thành trở lên là hạng bình, 20 thành trở lên là hạng thứ, dưới 20 thành là hạng kém; thưởng phạt cũng theo như đi Tiểu Tây Dương.

Riêng những hàng hóa không kê trong thanh đơn mà tận tâm tìm mua được thứ rất thích dụng, thì cứ mỗi thứ tính bằng 3 thứ trong thanh đơn, thích dụng vừa, mỗi thứ bằng 2 thứ trong thanh đơn, rồi gộp cả vào số đã chia thành mà thưởng.

Những hàng hóa được ưa chuộng

Các mặt hàng của nhà Thanh được triều đình nhà Nguyễn ưa chuộng là gốm, sứ, rượu, thuốc bắc, lâm thổ sản và hàng dễ vận chuyển, theo Nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn là: 太華茶 (trà Thái Hoa), 孔雀 (chim công), 馬 (ngựa), 沙羅布 (sa la bố), 五色錦 (gấm ngũ sắc), 豆竹 (đậu trúc), 垂絲竹 (thùy ti trúc), 雞腿竹 (kê thố trúc), 麝香 (xạ hương), 屏石 (đá cẩm thạch), 石青 (quặng đồng), 白銅 (bạch đồng), 金綱鑽 (kim cương), 紫石 (thạch anh tím), 琥珀 (hổ phách), 琉璃 (ngọc lưu ly), 石膏 (thạch cao), 玉 (ngọc), 龍腦石 (đá long não)…

Bên cạnh đó, những mặt hàng trong nước thường được sứ bộ đem theo sang Trung Hoa để giao dịch là sản vật đặc trưng của nước ta như: 生金 (vàng tự nhiên), 銀 (bạc), 銅 (đồng), 丹砂 (đơn sa), 珠 (ngọc trai), 玳瑁 (đồi mồi), 珊瑚 (san hô), 沉香 (trầm hương), 白雉 (trĩ lông trắng), 白鹿 (hươu trắng), 犀 (tê giác), 象 (voi), 兕 (sừng tê giác, dùng làm chén uống rượu), 猩猩 (đười ươi), 蚺蛇 (con trăn), 菴羅果 (quả xoài), 波羅密 (quả mít), 檳榔 (cau khô), 胡椒 (hồ tiêu), 蘇木 (gỗ cây sam), 烏 (gỗ mun), 鹽 (muối), 漆 (sơn)…

Hành trình ngàn dặm của “hàng xách tay” dưới triều Nguyễn -0
Tranh họa thơ đi sứ của Phạm Nam Phương.

Bản tâu năm Tự Đức 21 (1868) của các quan được cử đi sứ là Lê Tuấn, Nguyễn Tư Giản, Hoàng Tịnh chép, sứ bộ sang Thanh được nhà vua giao phó kiêm thêm nhiệm vụ mua sản phẩm y dược là: Nhân sâm, thận hải cẩu, băng phiến, không thanh (đá quý). Chuyện này cũng được nhắc đến trong “Yên thiều lục bút”, trong hai tháng nhân dịp đi sứ ở Yên Kinh (Trung Quốc), Nguyễn Tư Giản được một người huyện Đương Dương là Tô Hoàn Thành Thụy “đến quán thăm hỏi”. Nguyễn Tư Giản đã “nhân đó nhờ ông ta xem mua mấy thứ là nhân sâm, thận hải cẩu, băng phiến, không thanh...”. Năm 1870, sứ bộ này về nước, được vua ban yến, úy lạo và thưởng cho cấp bậc.

Sách cổ quý Trung Hoa cũng là mặt hàng được vua triều Nguyễn đặc biệt ưa thích. Năm 1830, Vua Minh Mạng sai sứ sang Thanh, lấy Tả thị lang bộ Lại Hoàng Văn Đản sung Chánh sứ, Tham hiệp Quảng Yên Trương Hảo Hợp đổi chức Thái thường tự Thiếu khanh, Hàn lâm Biên tu là Phan Huy Chú thăng chức Thị giảng, sung giáp ất phó sứ. Vua Dụ: “Trẫm rất thích thơ cổ họa cổ, cùng sách lạ của cổ nhân mà chưa tìm được nhiều. Bọn ngươi nên để lòng tìm mua đem về dâng. Vả lại Trẫm nghe nói những nhà quan ở Yên Kinh nhiều người chép sách riêng, nhưng vì việc quan thiệp đến nhà Thanh, cho nên chỉ chứa riêng ở nhà, chưa dám đem ra khắc in. Bọn ngươi nếu thấy những sách loại ấy dẫu còn là bản thảo cũng không kể giá đắt cứ mua”.

Ngoài sách cổ, Vua Minh Mạng còn sai người mua báo để cập nhật thông tin. Vua muốn biết hết công việc của nhà Thanh, đã từng ra lệnh cho người tìm mua tờ báo Kinh sao. Khi đó, Lan Châu và Hồ Bắc nhà Thanh có giặc, ở Yên Kinh, tháng Giêng tuyết đóng dày đến 3 thước, nhân dân nhiều người chết rét, thế mà báo Kinh sao không đăng. Vua nghe nói, sắc cho Hà Nội truyền bảo các hiệu buôn của người nhà Thanh rằng: “Phàm những việc tai biến giặc cướp của nhà Thanh, dẫu báo Kinh sao không đăng, cũng nên dò hỏi ghi chép mà tiến trình” (theo “Đại Nam thực lục”).

Xung quanh chuyện mua hàng

Năm 1830, sứ bộ sang Thanh là Nguyễn Trọng Vũ, Nguyễn Đình Tân, Đặng Văn Khải vì mua hàng không đạt yêu cầu, đều bị cách chức.

Trước họ vâng mệnh đi sứ, khi sắp đi, vua dụ rằng: “Ngày đến Yên Kinh nên nói với bộ Lễ nước Thanh rằng nước ta vốn ít nhân sâm, xin cứ chiếu lệ các vật hạng thưởng cấp thì chiết giá mà cấp thay cho bằng nhân sâm Quan Đông, cũng là mua các thứ ngọc thương bích, hoàng tông, hoàng khuê, thanh khuê, khi về phải đi gấp để kịp ngày tế Giao”.

Sách “Đại Nam thực lục” chép: “Bọn Vũ đến Yên Kinh, nói với bộ Lễ, lại nói là vì sự hiếu dưỡng cần phải dùng nhân sâm, làm hại quốc thể, còn những đồ ngọc mua về đều là đồ pha lê cả, mà khi về lại chậm không kịp việc”. Vua quở trách dữ, rồi giao cho bộ bàn, cách chức.

Năm 1840, Khoa đạo Đặng Quốc Lang đề xuất các đoàn đi sứ nước Thanh không nên mang hàng bán đổi chi dùng. Ông cho rằng nước ta là nước văn hiến, nếu nhân khi đi sứ mà mua bán đổi chác, e không được nhã quan, xin về sau, tất cả các đoàn sứ bộ, nếu cần mua đổi thứ gì, nên dùng bạc lạng để đổi mua, còn việc đem theo sản vật hàng hóa nên cho đình chỉ. Nhưng đề xuất này đã không được Vua Minh Mạng chấp thuận.

Chuyện mua hàng có khi bị đình chỉ vì lý do đặc biệt. Theo “Đại Nam thực lục”, năm Tự Đức nguyên niên (1848), Phủ Nội vụ lấy đơn hàng giao cho sứ bộ sang nước Thanh, nhân tiện tìm mua hàng hóa nước Thanh. Trong đó kê khai những đồ ngọc, đồ chơi, đồ cổ, đồ sứ và các đồ chơi quý lạ nữa. Khoa đạo là Đỗ Danh Thiếp tâu nói: Hoàng thượng ta, chính mới trong sáng, mọi việc bỏ xa xỉ theo kiệm ước. Nay đương ở trong nhà để tang, đồ mặc, đồ dùng trong cung đều theo trắng mộc chất phác. Huống chi sứ thần đi báo tin quốc tang, mà lại hỏi mua các đồ chơi quý lạ, thế không phải là để tỏ ra kiệm ước vậy. Các hàng kê mua ấy xin đình chỉ. Vua khen và nghe lời tâu.

Hành trình ngàn dặm của “hàng xách tay” dưới triều Nguyễn -0
Một trang trong Hoàng hoa sứ trình đồ (hành trình đi sứ Trung Hoa) của sứ bộ Đại Việt thế kỷ XVIII.

Theo tâu trình của Hiệp Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Hữu Thận vào năm 1826 (triều Minh Mạng) về việc sứ bộ nước ta sang Trung Hoa trở về. Chánh sứ Hoàng Kim Hoán và Hoàng Văn Quyền đã theo trạm về trước, còn Phó sứ thần Phan Huy Chú, Nguyễn Trọng Võ, Trần Chấn và Nguyễn Hữu Nhân ở lại kiểm soạn đồ vật công. Hộ tào Nguyễn Công Thiệp trình rằng ông đã cùng với Phan Huy Chú kiểm kê rõ. Các đồ vật công, gấm và hàng hóa nhẹ 14 thùng, quy thành 12 gánh vận chuyển theo đường bộ. Còn đồ vật nặng, cộng 16 thùng, vận chuyển theo đường biển. Tất cả đều được niêm phong cẩn mật, dán giấy niêm mang dấu tiểu triện của thành.

12 gánh hàng vận chuyển bằng đường bộ đều đã giao cho Phan Huy Chú nhận lĩnh và cho phu trạm vận chuyển, ngày 25 đã lên đường về Kinh phụng nộp. 16 thùng chở vận tải đường biển đã giao cho kho cục Tạo tác giữ gìn, bảo quản cẩn thận. 53 thùng đồ tư trang của hai sứ bộ và tùy tùng đều giao cho cục Tạo tác nhận giữ, chờ đoàn thuyền biển đến chuyển đi.

Liên quan hàng cấm, Vua Minh Mạng quy định: “Phàm những thuyền công phái đi ngoại quốc mà bọn quan lại quân lính trong thuyền mua giấu thuốc phiện sống, chín mang theo về thì tang vật dưới 1 cân, xử trảm giam hậu; trên 1 cân, trảm lập quyết; tài sản của kẻ can phạm bị tịch thu” (theo Đại Nam thực lục).

Sứ bộ có được mua hàng cho cá nhân?

Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), nhà vua định lệ về số lượng hàng hóa tư trang của các thành viên đi sứ sang nhà Thanh về. Theo đó, đồ riêng từ cửa ải đến Hà Nội: Chánh sứ 5 hòm; Giáp, Ất phó sứ mỗi viên 4 hòm; hành nhân 8 người, 12 hòm; tùy tùng 9 người 5 hòm. Từ Hà Nội về Kinh: Phu khiêng võng 3 viên sứ thần, mỗi viên 2 người; phu khiêng mũ áo và đồ riêng, mỗi viên 4 người đi làm một lần; hành nhân 8 viên, mỗi viên 2 người phu khiêng võng, chia làm hai lần; đi đến hạt nào hạt ấy chiếu lệ, cấp cho phu.

Câu chuyện sứ bộ Trương Hảo Hợp đi sứ nhà Thanh về đến kinh đô (1846) bị xử phạt vẫn còn lưu lại trong Châu bản sẽ cho chúng ta thấy rõ hơn vì sao có quy định giới hạn số hàng hóa cá nhân mua về: Lần này sứ bộ sang Thanh công cán trở về, dịch trạm vận chuyển 69 gánh. Trong đó, hàng hóa công và các phẩm phụ nghi lễ đình thần gửi mua chỉ có 39 gánh, trong khi hàng hóa riêng của những người trong sứ bộ nhiều đến 30 gánh. Trương Hảo Hợp vì thế bị phạt giáng cấp, cách chức, lưu nhiệm.

Sách “Đại Nam thực lục” chép về việc này như sau: Sứ bộ sang nhà Thanh là Hoàng Văn Đản, Trương Hảo Hợp và Phan Huy Chú, khi về bắt nhiều phu trạm đài đệ các đồ riêng. Hay tin đó vua lấy làm chán, dụ bộ Lễ rằng: “Bọn Hoàng Văn Đản, Trương Hảo Hợp nhận mệnh lệnh vua, trách nhiệm ở việc đi sứ là phải xét hỏi cho kỹ, thế mà trong bản nhật ký về việc quan sát thăm hỏi sự trạng nhà Thanh, nói chuyện đều lạo thảo sơ lược, không có một việc gì đáng xem, thực không xứng chức. Tới khi về, mua sắm của riêng gấp hai của công, dân phu đài đệ phí tổn nhiều. Vả nghĩ các trạm đêm ngày bôn tẩu nên vẫn nhiều lần gia ơn, mỗi việc cốt phải giảm bớt cho đỡ phiền. Duy sứ bộ từ Lạng Sơn đến Hà Nội, đường thủy không tiện, đường bộ lại khó khăn nên đã châm chước quy định: không kể hóa hạng công hay tư đều chuẩn cho do trạm chuyển vận.

Đó thực vì thấy (sứ bộ) ở ngoài, hằng năm vất vả nên đã phải thể tình mà rộng cho như thế. Còn từ Hà Nội về Kinh, đường thủy đường bộ đều thuận tiện dễ dàng, phàm tất cả đồ riêng đều cho tùy tiện chuyển vận, không cấm. Chỉ có của công mới do trạm đài đệ, để đỡ cho trạm phải chạy. Định lệ còn đó, sao bọn kia lại dám vi phạm? Hoàng Văn Đản mới đi sứ chưa được bao lâu đã lựa bổ cho chức Khanh Nhị, đãi ngộ ưu hậu biết chừng nào! Thế mà lại gian xảo, mưu lợi riêng, không trung chính. Vậy lập tức cách chức, giao bộ Hình bắt hỏi nghiêm xử. Trương Hảo Hợp và Phan Huy Chú đều cách chức, theo bộ ra sức làm việc để chuộc tội”.

Như vậy, bên cạnh sứ mệnh làm vẻ vang quốc thể, các sứ bộ triều Nguyễn còn kiêm thêm nhiệm vụ trao đổi hàng hóa. Việc không ít sứ thần bị giáng phạt, cách chức vì không làm tròn trách nhiệm khi mua bán hàng hóa mà triều đình giao phó cho thấy tầm quan trọng của hoạt động này lúc bấy giờ.

Hồng Nhung

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.