Tiềm năng lớn, áp lực giải tỏa công suất ngày càng tăng
Ngày 28/10, tại Sơn La, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) làm việc với UBND tỉnh Sơn La, các đơn vị vận hành hệ thống điện và chủ đầu tư các nhà máy điện nhằm đánh giá tình hình cung ứng điện, phối hợp vận hành thủy điện và tháo gỡ khó khăn trong phát triển hạ tầng lưới điện.
Theo báo cáo của EVNNPC, tổng công suất các nguồn điện đang vận hành trên địa bàn tỉnh Sơn La đạt khoảng 3.669 MW. Trong đó, Nhà máy Thủy điện Sơn La có công suất 2.400 MW, Thủy điện Huội Quảng 520 MW, 57 nhà máy thủy điện nhỏ với tổng công suất khoảng 670 MW, cùng 70,12 MW điện mặt trời mái nhà và 9 MW điện sinh khối.
Các nguồn điện này không chỉ đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương mà còn giữ vai trò quan trọng trong cung ứng điện cho hệ thống miền Bắc, đặc biệt tại những thời điểm phụ tải tăng cao.
Trong giai đoạn tháng 4–6/2026, sản lượng điện huy động từ các nhà máy thủy điện nhỏ tại Sơn La đạt hơn 385,4 triệu kWh, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Công suất huy động cao nhất đạt 382,8 MW, tương đương khoảng 19% tổng công suất huy động thủy điện nhỏ toàn miền Bắc.
Đáng chú ý, 17 trong số 22 nhà máy thủy điện đấu nối lưới trung áp đã tham gia dịch chuyển thời gian phát điện với tổng công suất 114,1 MW, góp phần hỗ trợ hệ thống trong các thời điểm phụ tải tăng cao.
Giai đoạn 2026–2030, Sơn La dự kiến phát triển thêm khoảng 6.273 MW nguồn điện mới. Trong đó, điện mặt trời tập trung chiếm khoảng 3.674 MW, điện gió 980 MW; điện mặt trời mái nhà theo mô hình tự sản xuất, tự tiêu thụ dự kiến phát triển thêm 50 MW. Dự án thủy điện tích năng Đông Phù Yên quy mô 1.200 MW đã được chấp thuận chủ trương đầu tư.
Quy mô nguồn điện dự kiến bổ sung lớn hơn đáng kể công suất hiện hữu, mở ra cơ hội để Sơn La phát huy lợi thế năng lượng. Tuy nhiên, đây cũng là sức ép đối với hạ tầng lưới điện, đặc biệt tại những khu vực tập trung nhiều dự án nguồn điện mới.
Phát triển đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng
EVNNPC xác định đầu tư phát triển lưới điện đồng bộ với nguồn điện là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm nâng cao năng lực cung ứng, khả năng tiếp nhận và giải tỏa công suất trên địa bàn Sơn La.
Giai đoạn 2021–2025, Tổng công ty đã triển khai nhiều công trình lưới điện 110 kV, đồng thời đầu tư hơn 627 tỷ đồng cho hệ thống điện trung, hạ áp tại địa phương.
Năm 2026, EVNNPC tiếp tục triển khai dự án đường dây và trạm biến áp 110 kV Vân Hồ với tổng mức đầu tư hơn 111 tỷ đồng, dự kiến đưa vào vận hành năm 2027; đồng thời rà soát danh mục công trình lưới điện 110 kV cần đầu tư đến năm 2030.
Các khu vực Mộc Châu – Yên Châu – Vân Hồ, Sông Mã, Mường La và Phù Yên – Bắc Yên được xác định cần chú trọng phát triển hạ tầng truyền tải nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp nhận các nguồn điện mới.
Bên cạnh đầu tư lưới điện, EVNNPC đề xuất khuyến khích phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ kết hợp hệ thống lưu trữ năng lượng bằng pin (BESS). Giải pháp lưu trữ có ý nghĩa trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo dự kiến gia tăng, giúp tăng khả năng linh hoạt trong sử dụng điện.
Tuy nhiên, phát triển nguồn điện và hạ tầng truyền tải mới chỉ là một phần của bài toán an ninh năng lượng. Yếu tố quan trọng khác là nâng cao chất lượng dự báo, khả năng điều độ và phối hợp vận hành giữa các nhà máy điện với đơn vị quản lý hệ thống.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Trưởng phòng Điều độ, Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO), đề nghị các chủ đầu tư chủ động chia sẻ thông tin thủy văn, dự báo nguồn nước, kế hoạch phát điện và phương án vận hành nhà máy.
Việc cập nhật thông tin thường xuyên giúp đơn vị điều độ xây dựng phương thức huy động phù hợp, nhận diện sớm nguy cơ quá tải và những hạn chế về giải tỏa công suất, qua đó góp phần bảo đảm vận hành an toàn, ổn định hệ thống điện.
Ở góc độ quản lý nhà nước, ông Tăng Thế Hùng, Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương, nhấn mạnh yêu cầu rà soát quy hoạch, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục đầu tư, đồng thời gắn tiến độ phát triển nguồn điện với năng lực hạ tầng truyền tải.
Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện tại Sơn La còn mang ý nghĩa rộng hơn phạm vi địa phương, góp phần củng cố năng lực cung ứng điện và nâng cao tính ổn định của hệ thống điện miền Bắc.
Hướng tới trung tâm năng lượng vùng Tây Bắc
Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, đề nghị EVN và NSMO rà soát phương thức huy động các nhà máy thủy điện trong hai tháng cuối năm 2026, nghiên cứu khả năng nâng sản lượng điện cả năm lên khoảng 13,83 tỷ kWh và phấn đấu tiệm cận mức 14,549 tỷ kWh của năm 2025 trên cơ sở điều kiện vận hành thực tế. Đồng thời, đề nghị EVNNPC ưu tiên triển khai các công trình lưới điện 110 kV trọng điểm tại Vân Hồ, Mai Sơn – Yên Châu, Phù Yên và Mường La; phối hợp thúc đẩy các dự án truyền tải 220 kV, 500 kV nhằm nâng cao khả năng giải tỏa công suất.
UBND tỉnh Sơn La sẽ chỉ đạo các sở, ngành phối hợp tháo gỡ khó khăn liên quan đến thủ tục đầu tư, đất đai và giải phóng mặt bằng, đồng thời xác định rõ danh mục công trình ưu tiên và trách nhiệm thực hiện.
Phát biểu kết luận, ông Nguyễn Đức Thiện, Tổng Giám đốc EVNNPC, khẳng định Tổng công ty sẽ tiếp tục phối hợp với tỉnh Sơn La, các đơn vị vận hành hệ thống điện và doanh nghiệp để tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, phát triển đồng bộ nguồn và lưới điện. Ông Thiện yêu cầu các nhà máy thuỷ điện tăng cường phối hợp điều độ, chủ động dự báo nguồn nước, xây dựng phương án vận hành phù hợp và tuân thủ các quy định về an toàn hệ thống.
Tổng Giám đốc EVNNPC cũng giao Công ty Điện lực Sơn La và các ban chuyên môn cụ thể hóa những nội dung thống nhất tại hội nghị thành kế hoạch hành động, xác định rõ nhiệm vụ, tiến độ và trách nhiệm triển khai.
Với tiềm năng nguồn điện lớn và định hướng phát triển đa dạng các loại hình năng lượng, Sơn La có điều kiện để từng bước trở thành trung tâm năng lượng của vùng Tây Bắc. Tuy nhiên, mục tiêu này đòi hỏi sự đồng bộ giữa quy hoạch nguồn điện, đầu tư hạ tầng truyền tải, năng lực điều độ và cơ chế phối hợp giữa các bên. Thước đo hiệu quả không chỉ nằm ở công suất nguồn điện được đầu tư, mà còn ở khả năng đưa nguồn điện vào vận hành an toàn, giải tỏa công suất và đáp ứng nhu cầu của hệ thống.