Ngày 27/10, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ NN&MT tổ chức hội thảo “Công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO2 (CCUS): Giải pháp thúc đẩy Net Zero tại Việt Nam”.
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ NN&MT Lê Trọng Yên nhấn mạnh, thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đòi hỏi đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, các giải pháp giảm phát thải cần được lựa chọn trên cơ sở khoa học, tính khả thi và điều kiện thực tế. CCUS là một trong những hướng công nghệ cần nghiên cứu, nhất là đối với các ngành công nghiệp có lượng phát thải lớn.
Theo Thứ trưởng Lê Trọng Yên, CCUS liên quan đến nhiều lĩnh vực như môi trường, địa chất, dầu khí, công nghiệp, xây dựng và tài chính. Vì vậy, cần rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật, bảo đảm tính thống nhất và phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan liên quan.
Việc lựa chọn công nghệ cũng phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất, nồng độ CO₂ trong khí thải, quy mô và tính ổn định của nguồn phát thải, cũng như khả năng áp dụng các giải pháp giảm phát thải khác. Đối với từng dự án, cần đánh giá cụ thể hiệu quả giảm phát thải, tính khả thi kinh tế và khả năng duy trì hoạt động sản xuất.
Theo TS Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam, quy mô công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon toàn cầu tăng nhanh với 77 dự án đang vận hành, 610 dự án ở giai đoạn phát triển. Các kiểu địa chất lưu trữ CO₂ trên thế giới gồm mỏ dầu khí cạn kiệt, tầng chứa nước mặn và vỉa than sâu không khai thác.
Ông Lương cho biết, Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á với khoảng 71 tỷ tấn, tập trung chủ yếu vào 3 khu vực địa chất: bể Sông Hồng, bể Nam Côn Sơn và bể Cửu Long.
Việt Nam còn nhiều lợi thế cho công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) như: 34 mỏ dầu khí ngoài khơi đã được đánh giá sơ bộ tiềm năng lưu trữ CO₂. Năm 2011, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á bơm ép CO₂ thành công tại mỏ Rạng Đông.
Ông Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ozone, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết CCUS là một trong những giải pháp có tiềm năng giảm phát thải tại các ngành công nghiệp khó cắt giảm hoàn toàn lượng khí nhà kính. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn cần hỗ trợ quốc tế về công nghệ, kỹ thuật và tài chính để từng bước thử nghiệm.
Còn theo ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Việt Nam đã có những định hướng chính sách về ứng phó biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy công nghệ thu giữ, lưu trữ carbon. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp, đánh giá đầy đủ tiềm năng địa chất và tăng cường hợp tác quốc tế.
Từ kinh nghiệm quốc tế, ông Tạ Đình Thi cho rằng, chính sách nhất quán, cơ chế khuyến khích rõ ràng và hạ tầng đồng bộ là những yếu tố quan trọng để phát triển CCUS. Việt Nam có thể nghiên cứu mô hình chia sẻ hạ tầng thu giữ, vận chuyển và lưu trữ CO₂ tại các khu công nghiệp nhằm giảm chi phí đầu tư, đồng thời xây dựng cơ sở dữ liệu địa chất để lựa chọn địa điểm lưu trữ an toàn.
Trong giai đoạn đầu, ngành dầu khí có thể đóng vai trò tiên phong nhờ kinh nghiệm khai thác, hạ tầng ngoài khơi và dữ liệu địa chất. Việc nghiên cứu kết hợp lưu trữ CO₂ với công nghệ tăng cường thu hồi dầu cũng có thể giúp tận dụng hạ tầng sẵn có, tích lũy kinh nghiệm và giảm chi phí triển khai.