Kiểm soát cung cầu chăn nuôi, tránh dư thừa
Chiều 12/8, tiếp tục chương trình Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường. Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên điều hành phiên thảo luận.
Tham gia thảo luận, đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai) đánh giá cao nỗ lực của cơ quan soạn thảo nhằm cắt giảm mạnh thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; tăng phân cấp và từng bước chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý bằng thủ tục sang quản lý dựa trên tiêu chuẩn và trách nhiệm của doanh nghiệp.
Ông An cho rằng, những cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và hình thành các dữ liệu lớn về nông nghiệp sẽ thúc đẩy phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Tuy nhiên, đại biểu tỉnh Đồng Nai cũng chỉ ra rằng, ngành chăn nuôi đang thiếu công cụ kiểm soát tổng năng lực sản xuất. Theo đại biểu, nắm được tổng đàn và điều tiết được tổng đàn là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Theo ông An, các quy định hiện hành chủ yếu quản lý từ cơ sở, chưa có công cụ đủ rõ để xử lý khi xuất hiện tổng năng lực sản xuất của một ngành hoặc một vùng vượt quá nhu cầu của thị trường. Việc này dẫn đến nguy cơ dư thừa nguồn cung.
Ông An đề nghị bổ sung vào luật nguyên tắc quản lý, điều tiết năng lực sản xuất chăn nuôi trên cơ sở dữ liệu, dự báo và cân đối cung cầu, quy định chi tiết theo 3 cấp độ sát với thực tế thị trường.
Ở cấp độ bình thường sẽ theo dõi, dự báo và công khai chỉ số thị trường để các chủ thể tự điều tiết. Khi cấp độ vượt ngưỡng cảnh báo sẽ áp dụng ngay các biện pháp kiểm soát tăng công suất, hạn chế mở rộng hoặc xây mới cơ sở quy mô lớn, đồng thời điều chỉnh đàn.
Khi cấp độ mất cân đối nghiêm trọng thì phải áp dụng các chỉ tiêu hoặc hạn ngạch trong thời gian với phạm vi, điều kiện và căn cứ áp dụng rõ ràng.
Bên cạnh đó, ông An cũng nhấn mạnh việc quản lý tổng đàn phải gắn chặt với quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là rà soát việc sử dụng đất cho chăn nuôi công nghệ cao để vừa phát triển kinh tế vừa đảm bảo kiểm soát bền vững.
Tham gia thảo luận, góp ý về vấn đề liên quan đến công bố thông tin sản phẩm thức ăn chăn nuôi, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An) tán thành việc chuyển sang cơ chế tự công bố nhằm giảm thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp.
Bà Tú đề xuất tối ưu hóa hệ thống dữ liệu để doanh nghiệp không bị "lặp" thủ tục, đồng thời siết chặt trách nhiệm pháp lý khi trao quyền tự công bố sản phẩm.
Cần bổ sung vào Luật nguyên tắc "một lần khai báo, nhiều cơ quan cùng sử dụng”; sửa đổi quy định khai báo "trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường" thành "trên Hệ thống thông tin chuyên ngành về chăn nuôi". Khi dữ liệu Nhà nước đã có thì doanh nghiệp không phải kê khai, cung cấp lại.
Nhấn mạnh quyền lợi và trách nhiệm pháp lý, đại biểu tỉnh Nghệ An cho rằng đã trao quyền tự công bố, tự thay đổi cho doanh nghiệp thì phải quy định ngay trách nhiệm trước pháp luật tại luật, không nên để quyền ở luật nhưng trách nhiệm lại nằm ở nghị định.
Bà Tú đề nghị, sửa đổi luật theo hướng hệ thống công bố thức ăn chăn nuôi phải kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia; bổ sung rõ chủ thể tự công bố phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, kịp thời của thông tin. Việc hậu kiểm phải được thực hiện theo mức độ rủi ro, truy xuất nguồn gốc và lịch sử tuân thủ của doanh nghiệp.
Cần luật hóa hệ thống dữ liệu liên hồ chứa
Góp ý vào việc xây dựng, điều chỉnh các quy trình vận hành liên hồ chứa theo thời gian thực, đại biểu Trần Mạnh Huy (Đoàn ĐBQH TP Đà Nẵng) nhấn mạnh rằng "thời gian thực" không chỉ là một yêu cầu kỹ thuật đơn thuần. Nếu thiết kế đúng, đây phải là bước chuyển từ vận hành hồ theo quy trình tương đối tĩnh sang quản lý rủi ro toàn lưu vực dựa trên dự báo.
Từ thực tế khảo sát tại lưu vực sông Vũ Gia - Thu Bồn, ông Huy cho rằng dữ liệu qua thực tế hoàn toàn không thiếu khi chủ hồ có dữ liệu vận hành, cơ quan khí tượng thủy văn có dữ liệu mưa và dự báo, địa phương có dữ liệu phục vụ ứng phó.
Tuy nhiên, vẫn có “điểm nghẽn” khi các nguồn dữ liệu này chưa được kết nối đủ để hỗ trợ dự báo, vận hành và cảnh báo sớm vùng hạ du. Theo ông Huy, các lưu vực có đặc điểm và vướng mắc khác nhau hiện nay chưa hình thành một hệ thống dữ liệu chung, dẫn tới tình trạng mỗi nơi một tiêu chuẩn, một cách hiểu khác nhau về “thời gian thực” khiến thông tin bị đứt gãy.
Từ những bất cập trên, ông Huy đề xuất xây dựng cơ chế liên thông dữ liệu và thông tin giữa hệ thống quản lý tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và phòng chống thiên tai, để dữ liệu vận hành liên hồ trở thành đầu vào kịp thời cho dự báo, cảnh báo sớm và ứng phó.
Đối với các lưu vực có nguy cơ cao, quy trình vận hành liên hồ theo thời gian thực phải bắt buộc bảo đảm khả năng kết nối, khai thác và chia sẻ dữ liệu cần thiết với các hệ thống khí tượng, khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai và các hệ thống dữ liệu liên quan, nhằm dự báo dòng chảy, mô phỏng các kịch bản vận hành một cách chính xác nhất.
Theo ông Huy, dữ liệu vận hành không dừng lại ở từng hồ, từng quy trình mà phải được kết nối kịp thời với hệ thống dự báo, cảnh báo sớm và phòng chống thiên tai. Mỗi lưu vực có thể có quy trình riêng nhưng dữ liệu phải liên thông, thẩm quyền phải rõ và trách nhiệm phải truy vết được.
“Thước đo cuối cùng không chỉ là hồ có vận hành đúng quy trình hay không, mà là thông tin có đến được với chính quyền và người dân vùng hạ du đủ sớm để hành động kịp thời hay không”, ông Huy nhấn mạnh.