CIA được gì từ Operation Coldfeet?

Nhân việc Mỹ muốn thâu tóm Greenland, báo Nga lại xới lên sự kiện CIA từng tiến hành nhằm chống Liên Xô thời Chiến tranh Lạnh có tên Operation Coldfeet. Đây là chiến dịch bí mật CIA muốn tìm hiểu bí mật quân sự và khoa học của Liên Xô tại vùng Bắc Cực xa xôi này.

Nguồn gốc Operation Coldfeet

Báo trực tuyến Nga RBTH mới đây cho biết, trong thời Chiến tranh Lạnh, CIA (Cục tình báo Trung ương Mỹ) đã đầu tư một khoản tiền khổng lồ cho các chiến dịch lớn để nhằm chống lại Liên Xô, thành trì XHCN một thời, khai thác các bí mật quân sự, trong đó có các trạm nghiên cứu của Liên Xô ở Bắc Cực vào bất cứ lúc nào. Chiến dịch Coldfeet diễn ra ngày 8/5/1962, đặc vụ Mỹ nhảy dù từ máy bay vận tải xuống Severny Polyus-8 (North Pole-8, hay NP-8), trạm nghiên cứu của Liên Xô trên một tảng băng trôi ở Bắc Băng Dương, nằm cách bờ biển phía bắc của Canada hàng trăm kilômét.

CIA được gì từ Operation Coldfeet? -0
Vùng Bắc Cực, nơi từng diễn ra chiến dịch Operation Coldfeet.

Theo Bách khoa thư mở, các trạm nghiên cứu này  gồm trạm Cực Bắc 1, 2... (viết tắt là NP 1,2...). Các trạm NP được Liên Xô dùng để thực hiện chương trình nghiên cứu đại dương, như nghiên cứu băng, khí tượng, địa vật lý, thủy văn, sinh vật biển... Trung bình, mỗi trạm tiến hành 600 đến 650 phép đo độ sâu đại dương, và 3.500 đến 3.900 phép đo khí tượng phức tạp, 1.200 đến 1.300 phép đo nhiệt độ và thăm dò nước biển để phân tích hóa học, và 600 đến 650 lần phóng khinh khí cầu nghiên cứu từ trường, tầng điện ly, băng và các hiện tượng khác.

Trạm NP hiện đại giống như một khu định cư mini với nhà ở, phòng dành cho các thiết bị khoa học. Thông thường, trạm NP bắt đầu hoạt động vào tháng 4, duy trì trong 2 hoặc 3 năm cho đến khi băng trôi đến biển Greenland. Các nhà thám hiểm địa cực được thay thế hàng năm và kể từ năm 1937, có khoảng 800 người đã làm việc tại các trạm NP.

Các trạm đầu tiên sử dụng năng lượng băng trôi làm phương tiện khám phá khoa học về Bắc Cực có nguồn gốc từ năm 1937, khi trạm đầu tiên North Pole-1 bắt đầu đi vào hoạt động. North Pole-1 ra đời ngày 21/5/1937 cách Bắc Cực khoảng 20 km do Otto Schmidt chỉ huy. NP-1 hoạt động trong 9 tháng, trong thời gian này băng trôi được 2.850 km. Vào tháng 2/1938, tàu phá băng của Liên Xô Taimyr và Murman đã đưa 4 nhà thám hiểm ra khỏi trạm, những người ngay lập tức trở nên nổi tiếng và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Gồm nhà sinh vật học thủy văn Pyotr Shirshov, nhà địa vật lý Yevgeny Fyodorov, nhà phóng xạ Ernst Krenkel và thủ lĩnh của họ là Ivan Papanin.

Kể từ năm 2000, việc tìm một tảng băng phù hợp để đóng trại trở nên khó khăn do hiện tượng ấm lên toàn cầu, và một số trạm đã phải sơ tán sớm vì băng tan nhanh bất ngờ. Năm 2008, người ta thay các trại băng bằng một tàu nghiên cứu để làm trụ cột. Sau gần một thập kỷ cân nhắc, năm 2017 hợp đồng đóng tàu trạm đã được trao cho nhà máy đóng tàu Admiralty ở Saint Petersburg. Ra đời tàu dạng một sà lan tự hành chống băng lớn, trọng lượng rẽ nước gần 10.000 tấn. Tàu có tuổi thọ hoạt động tự động trong 2-3 năm, được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại và được đưa vào hoạt động năm 2020.

CIA được gì từ Operation Coldfeet? -0
Thiếu tá James Smith và trung úy LeSchack (góc dưới bên phải) trước khi được thả xuống Bắc Cực bằng kỹ thuật Skyhook.

Chiến dịch Operation Coldfeet diễn ra như thế nào?

Chiến dịch Coldfeet được bắt đầu từ tháng 5/1961, khi viễn cảnh một trạm băng của Liên Xô thu hút sự quan tâm của Văn phòng nghiên cứu Hải quân Mỹ (ONR)  muốn biết khu vực này đang nghiên cứu gì ở Bắc Cực. Năm 1961, ONR đã âm thầm thiết lập một mạng lưới giám sát âm thanh trên một trạm trôi của Mỹ để theo dõi các tàu ngầm của Liên Xô. Sau đó ONR cho rằng Liên Xô cũng sẽ dùng hệ thống tương tự để theo dõi các tàu ngầm Mỹ khi chúng đi qua vùng băng cực. Ngoài ra, ONR còn muốn so sánh các nỗ lực của Liên Xô trên các trạm trôi dạt với các hoạt động của Mỹ.

Theo Đại tá John Cadwalader, người chỉ huy Chiến dịch Coldfeet, kế hoạch được hoàn tất vào tháng 9/1961, mục tiêu nhắm tới là trạm NP- 9 nằm trong bán kính 970 km thuộc  căn cứ không quân của Mỹ tại Thule, Greenland.

ONR đã chọn hai người để thực hiện nhiệm vụ là Thiếu tá James Smith, thuộc Không quân Mỹ (USAF). Smith là một lính dù giàu kinh nghiệm và là nhà ngôn ngữ học người Nga, từng phục vụ trên các Trạm trôi Alpha và Charlie của Mỹ. Trung úy Leonard A. LeSchack, cựu chuyên gia địa vật lý ở Nam Cực, từng tham gia thiết lập hệ thống giám sát trên T-3 năm 1960. Hai người này được đào tạo cùng với phi hành đoàn P2V Neptune giàu kinh nghiệm tại Trung tâm thử nghiệm hàng không Hải quân Mỹ ở Patuxent River, Maryland.

Theo RBTH, đầu những năm 1960, CIA và ONR đã tiến hành cuộc săn lùng các trạm nghiên cứu trên băng của Liên Xô mà Mỹ cho răng trên đó lắp đặt các thiết bị phát hiện tàu ngầm của Mỹ qua âm thanh vọng. Ban đầu, mục tiêu của USN là trạm NP-9, được một máy bay trinh sát phát hiện vào tháng 5/1961. Tuy nhiên, do ở quá xa nên dự án đã bị dừng lại. Đến đầu năm 1962, căn cứ Không quân Canada ở Resolute Bay đã tình cờ phát hiện thấy trạm NP-8 nên đây là cơ hội để USN tiếp tục dự án.

Khi chiến dịch Coldfeet được bắt đầu, CIA gặp không ít khó khăn. Do tàu phá băng không thể di chuyển được, còn máy bay trực thăng lại ở quá xa trạm NP-8, chưa kể việc hạ cánh trên băng trôi nổi cũng rất nguy hiểm. Cuối cùng, USN quyết định dùng dù để thả các đặc vụ từ trên xuống, mặc dù chưa biết cách quay trở lại máy bay thế nào.

Để giải quyết, CIA quyết định sử dụng hệ thống có tên Skyhook. Skyhook, tên chính thức là “hệ thống cứu hộ từ mặt đất đưa lên không trung”, đã được các cơ quan quân sự và tình báo Mỹ sử dụng trong nhiều thập kỷ. Dư luận lần đầu tiên biết đến thiết bị này khi bộ phim James Bond năm 1965 “Thunderball” có cảnh Bond và một người bạn đồng hành nữ được kéo lên khỏi đại dương bằng Skyhook, một minh chứng rõ ràng về cách thiết bị hoạt động trong thực tế, cứu sống từng người một.

Skyhook thực chất là dùng một khinh khí cầu nhỏ chứa heli, một dây nâng 150 mét và một chiếc máy bay có khả năng bay tầm thấp. Khi khinh khí cầu bay lên độ cao cần thiết, các đặc vụ được “móc treo” vào khí cầu bằng dây nâng và đợi trên mặt đất. Khi máy bay tiếp cận sẽ sử dụng thiết bị chuyên dụng để gom các đặc vụ, còn khinh khí cầu được thả ra, người được tời tự động cuốn lên máy bay.

CIA được gì từ Operation Coldfeet? -0
Trạm nghiên cứu của Liên Xô ở Bắc Cực.

CIA được gì qua Operation Coldfeet?

Vào ngày 28/5/1962, hai người được máy bay B-17 do phi công Connie Seigrist và Douglas Price lái được thả xuống trạm NP -8. Ngay lập tức họ thực hiện khám phá thu thập thông tin. Đúng như dự đoán của USN, các nhà khoa học Liên Xô đã rời khỏi NP-8 mà không kịp mang theo tất cả các thiết bị. Kết quả, sau 3 ngày lục soát, hai đặc vụ Mỹ đã phát hiện hơn 80 tài liệu, thu thập các mảnh vụn vặt từ các thiết bị mà Liên Xô bỏ lại, chụp được trên 100 bức ảnh. Do không có người nên chiến lợi phẩm được đưa lên máy bay một cách dễ dàng mà không gặp bất cứ trở ngại nào, duy chỉ gặp khó khăn là gió lớn nên vất vả.

Cụ thể, theo báo cáo của Đại tá John Cadwalader thì Coldfeet Cadwalader đã thu được thông tin tình báo “có giá trị rất lớn”. ONR đã biết được trạm của Liên Xô được cấu hình để cho phép hoạt động im lặng trong thời gian dài dành cho công tác nghiên cứu âm thanh. Ngoài ra, thiết bị và tài liệu thu được từ NP 8 cho thấy nghiên cứu của Liên Xô về khí tượng và hải dương học vùng cực vượt trội hơn so với các nỗ lực của Mỹ.

CIA còn phát hiện bằng chứng về thiết bị và phương pháp tinh vi của Liên Xô để phát hiện tàu ngầm Mỹ dưới lớp băng Bắc Cực, một mối quan ngại chiến lược lớn. Hiểu rõ hơn về chiến lược của Liên Xô trong việc vận hành và phát hiện tàu ngầm trong môi trường Bắc Cực đầy thách thức.

Về nghiên cứu khoa học, CIA phát hiện ra rằng nghiên cứu khí tượng và hải dương học vùng cực của Liên Xô tiên tiến hơn so với suy nghĩ ban đầu. Thành công về mặt hoạt động của chiến dịch chính là sử dụng thành công đầu tiên của hệ thống Skyhook trong việc giải cứu các điệp viên từ các khu vực khó tiếp cận, đây là một thành công tình báo lớn.

 Về dữ liệu, CIA đã thu hồi hơn 150 pound (khoảng 68kg) tài liệu và và 21 thiết bị từ trạm nghiên cứu NP8. Nó cung cấp cho Mỹ một lượng thông tin tình báo đáng kể về năng lực của Liên Xô tại Bắc Cực, đồng thời xác nhận tính hiệu quả của một công nghệ khai thác mang tính cách mạng cho các hoạt động bí mật sau này.

Liên Xô đã để lại một số túp lều bằng ván ép chứa mọi thứ từ bếp than và máy phát điện đến hàng chục cuộn phim 16mm, sổ ghi chép khoa học và thiết bị. “Thức ăn vẫn còn trên bếp, đông cứng trong những chiếc chảo dầu mỡ. Trong phòng ăn có một tấm áp phích ghi ngày khởi hành và yêu cầu bất cứ ai tìm thấy nó hãy gọi cho Viện Bắc Cực và Nam Cực ở Leningrad”, báo cáo của CIA ghi rõ.

Ngoài ra, CIA còn thu được bằng chứng cho thấy Liên Xô đã sử dụng thiết bị phát hiện âm thanh của tàu ngầm Mỹ. “Với những gì thu thập được cho thấy Liên Xô có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực chống ngầm. Đây là những tài liệu giá trị không chỉ với Mỹ mà còn rất quan trọng đối với chính phủ Liên Xô”, tổng chỉ huy chiến dịch, Đại tá John Cadwalader cho hay.

Bắc Cực và yếu tố địa chính trị

Vùng Bắc cực là khu vực xung quanh Bắc Cực Trái Đất, đối diện với Vùng Nam cực xung quanh Nam Cực. Vùng Bắc cực bao gồm Bắc Băng Dương, các vùng biển lân cận và một phần của Alaska (Mỹ), một phần Bắc Canada, Greenland, Đan Mạch, Nga, Iceland, Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan. Vùng Bắc Cực được định nghĩa là khu vực phía bắc, nằm trong vòng Bắc Cực (66o33'B), là nơi đánh dấu điểm cực nam của ngày vùng cực (ngày có mặt trời suốt 24 giờ, thường gọi là mặt trời nửa đêm) và đêm vùng cực (ngày không có mặt trời suốt 24 giờ). Đây cũng được xem là hoang mạc lớn thứ hai thế giới theo diện tích sau châu Nam Cực.

Vùng đất trong khu vực Bắc Cực có tuyết và băng phủ thay đổi theo mùa, với tầng đất đóng băng vĩnh cửu chủ yếu là băng vĩnh cửu (băng ngầm đóng băng vĩnh viễn) có chứa tài nguyên. Biển Bắc Cực chứa băng biển theo mùa ở nhiều nơi. Bắc Cực là một khu vực độc đáo trong số các hệ sinh thái của Trái Đất. Ví dụ, các nền văn hóa trong khu vực và các dân tộc bản địa Bắc Cực đã thích nghi với điều kiện lạnh lẽo và khắc nghiệt ở đó. Cuộc sống ở Bắc Cực bao gồm các sinh vật sống trong băng, động vật phù du và thực vật phù du; cá và động vật có vú biển, chim, động vật trên cạn, thực vật và xã hội loài người.

Khắc Nam

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.