CIA được gì từ Operation Coldfeet?

Nhân việc Mỹ muốn thâu tóm Greenland, báo Nga lại xới lên sự kiện CIA từng tiến hành nhằm chống Liên Xô thời Chiến tranh Lạnh có tên Operation Coldfeet. Đây là chiến dịch bí mật CIA muốn tìm hiểu bí mật quân sự và khoa học của Liên Xô tại vùng Bắc Cực xa xôi này.

Nguồn gốc Operation Coldfeet

Báo trực tuyến Nga RBTH mới đây cho biết, trong thời Chiến tranh Lạnh, CIA (Cục tình báo Trung ương Mỹ) đã đầu tư một khoản tiền khổng lồ cho các chiến dịch lớn để nhằm chống lại Liên Xô, thành trì XHCN một thời, khai thác các bí mật quân sự, trong đó có các trạm nghiên cứu của Liên Xô ở Bắc Cực vào bất cứ lúc nào. Chiến dịch Coldfeet diễn ra ngày 8/5/1962, đặc vụ Mỹ nhảy dù từ máy bay vận tải xuống Severny Polyus-8 (North Pole-8, hay NP-8), trạm nghiên cứu của Liên Xô trên một tảng băng trôi ở Bắc Băng Dương, nằm cách bờ biển phía bắc của Canada hàng trăm kilômét.

CIA được gì từ Operation Coldfeet? -0
Vùng Bắc Cực, nơi từng diễn ra chiến dịch Operation Coldfeet.

Theo Bách khoa thư mở, các trạm nghiên cứu này  gồm trạm Cực Bắc 1, 2... (viết tắt là NP 1,2...). Các trạm NP được Liên Xô dùng để thực hiện chương trình nghiên cứu đại dương, như nghiên cứu băng, khí tượng, địa vật lý, thủy văn, sinh vật biển... Trung bình, mỗi trạm tiến hành 600 đến 650 phép đo độ sâu đại dương, và 3.500 đến 3.900 phép đo khí tượng phức tạp, 1.200 đến 1.300 phép đo nhiệt độ và thăm dò nước biển để phân tích hóa học, và 600 đến 650 lần phóng khinh khí cầu nghiên cứu từ trường, tầng điện ly, băng và các hiện tượng khác.

Trạm NP hiện đại giống như một khu định cư mini với nhà ở, phòng dành cho các thiết bị khoa học. Thông thường, trạm NP bắt đầu hoạt động vào tháng 4, duy trì trong 2 hoặc 3 năm cho đến khi băng trôi đến biển Greenland. Các nhà thám hiểm địa cực được thay thế hàng năm và kể từ năm 1937, có khoảng 800 người đã làm việc tại các trạm NP.

Các trạm đầu tiên sử dụng năng lượng băng trôi làm phương tiện khám phá khoa học về Bắc Cực có nguồn gốc từ năm 1937, khi trạm đầu tiên North Pole-1 bắt đầu đi vào hoạt động. North Pole-1 ra đời ngày 21/5/1937 cách Bắc Cực khoảng 20 km do Otto Schmidt chỉ huy. NP-1 hoạt động trong 9 tháng, trong thời gian này băng trôi được 2.850 km. Vào tháng 2/1938, tàu phá băng của Liên Xô Taimyr và Murman đã đưa 4 nhà thám hiểm ra khỏi trạm, những người ngay lập tức trở nên nổi tiếng và được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Gồm nhà sinh vật học thủy văn Pyotr Shirshov, nhà địa vật lý Yevgeny Fyodorov, nhà phóng xạ Ernst Krenkel và thủ lĩnh của họ là Ivan Papanin.

Kể từ năm 2000, việc tìm một tảng băng phù hợp để đóng trại trở nên khó khăn do hiện tượng ấm lên toàn cầu, và một số trạm đã phải sơ tán sớm vì băng tan nhanh bất ngờ. Năm 2008, người ta thay các trại băng bằng một tàu nghiên cứu để làm trụ cột. Sau gần một thập kỷ cân nhắc, năm 2017 hợp đồng đóng tàu trạm đã được trao cho nhà máy đóng tàu Admiralty ở Saint Petersburg. Ra đời tàu dạng một sà lan tự hành chống băng lớn, trọng lượng rẽ nước gần 10.000 tấn. Tàu có tuổi thọ hoạt động tự động trong 2-3 năm, được trang bị các thiết bị nghiên cứu hiện đại và được đưa vào hoạt động năm 2020.

CIA được gì từ Operation Coldfeet? -0
Thiếu tá James Smith và trung úy LeSchack (góc dưới bên phải) trước khi được thả xuống Bắc Cực bằng kỹ thuật Skyhook.

Chiến dịch Operation Coldfeet diễn ra như thế nào?

Chiến dịch Coldfeet được bắt đầu từ tháng 5/1961, khi viễn cảnh một trạm băng của Liên Xô thu hút sự quan tâm của Văn phòng nghiên cứu Hải quân Mỹ (ONR)  muốn biết khu vực này đang nghiên cứu gì ở Bắc Cực. Năm 1961, ONR đã âm thầm thiết lập một mạng lưới giám sát âm thanh trên một trạm trôi của Mỹ để theo dõi các tàu ngầm của Liên Xô. Sau đó ONR cho rằng Liên Xô cũng sẽ dùng hệ thống tương tự để theo dõi các tàu ngầm Mỹ khi chúng đi qua vùng băng cực. Ngoài ra, ONR còn muốn so sánh các nỗ lực của Liên Xô trên các trạm trôi dạt với các hoạt động của Mỹ.

Theo Đại tá John Cadwalader, người chỉ huy Chiến dịch Coldfeet, kế hoạch được hoàn tất vào tháng 9/1961, mục tiêu nhắm tới là trạm NP- 9 nằm trong bán kính 970 km thuộc  căn cứ không quân của Mỹ tại Thule, Greenland.

ONR đã chọn hai người để thực hiện nhiệm vụ là Thiếu tá James Smith, thuộc Không quân Mỹ (USAF). Smith là một lính dù giàu kinh nghiệm và là nhà ngôn ngữ học người Nga, từng phục vụ trên các Trạm trôi Alpha và Charlie của Mỹ. Trung úy Leonard A. LeSchack, cựu chuyên gia địa vật lý ở Nam Cực, từng tham gia thiết lập hệ thống giám sát trên T-3 năm 1960. Hai người này được đào tạo cùng với phi hành đoàn P2V Neptune giàu kinh nghiệm tại Trung tâm thử nghiệm hàng không Hải quân Mỹ ở Patuxent River, Maryland.

Theo RBTH, đầu những năm 1960, CIA và ONR đã tiến hành cuộc săn lùng các trạm nghiên cứu trên băng của Liên Xô mà Mỹ cho răng trên đó lắp đặt các thiết bị phát hiện tàu ngầm của Mỹ qua âm thanh vọng. Ban đầu, mục tiêu của USN là trạm NP-9, được một máy bay trinh sát phát hiện vào tháng 5/1961. Tuy nhiên, do ở quá xa nên dự án đã bị dừng lại. Đến đầu năm 1962, căn cứ Không quân Canada ở Resolute Bay đã tình cờ phát hiện thấy trạm NP-8 nên đây là cơ hội để USN tiếp tục dự án.

Khi chiến dịch Coldfeet được bắt đầu, CIA gặp không ít khó khăn. Do tàu phá băng không thể di chuyển được, còn máy bay trực thăng lại ở quá xa trạm NP-8, chưa kể việc hạ cánh trên băng trôi nổi cũng rất nguy hiểm. Cuối cùng, USN quyết định dùng dù để thả các đặc vụ từ trên xuống, mặc dù chưa biết cách quay trở lại máy bay thế nào.

Để giải quyết, CIA quyết định sử dụng hệ thống có tên Skyhook. Skyhook, tên chính thức là “hệ thống cứu hộ từ mặt đất đưa lên không trung”, đã được các cơ quan quân sự và tình báo Mỹ sử dụng trong nhiều thập kỷ. Dư luận lần đầu tiên biết đến thiết bị này khi bộ phim James Bond năm 1965 “Thunderball” có cảnh Bond và một người bạn đồng hành nữ được kéo lên khỏi đại dương bằng Skyhook, một minh chứng rõ ràng về cách thiết bị hoạt động trong thực tế, cứu sống từng người một.

Skyhook thực chất là dùng một khinh khí cầu nhỏ chứa heli, một dây nâng 150 mét và một chiếc máy bay có khả năng bay tầm thấp. Khi khinh khí cầu bay lên độ cao cần thiết, các đặc vụ được “móc treo” vào khí cầu bằng dây nâng và đợi trên mặt đất. Khi máy bay tiếp cận sẽ sử dụng thiết bị chuyên dụng để gom các đặc vụ, còn khinh khí cầu được thả ra, người được tời tự động cuốn lên máy bay.

CIA được gì từ Operation Coldfeet? -0
Trạm nghiên cứu của Liên Xô ở Bắc Cực.

CIA được gì qua Operation Coldfeet?

Vào ngày 28/5/1962, hai người được máy bay B-17 do phi công Connie Seigrist và Douglas Price lái được thả xuống trạm NP -8. Ngay lập tức họ thực hiện khám phá thu thập thông tin. Đúng như dự đoán của USN, các nhà khoa học Liên Xô đã rời khỏi NP-8 mà không kịp mang theo tất cả các thiết bị. Kết quả, sau 3 ngày lục soát, hai đặc vụ Mỹ đã phát hiện hơn 80 tài liệu, thu thập các mảnh vụn vặt từ các thiết bị mà Liên Xô bỏ lại, chụp được trên 100 bức ảnh. Do không có người nên chiến lợi phẩm được đưa lên máy bay một cách dễ dàng mà không gặp bất cứ trở ngại nào, duy chỉ gặp khó khăn là gió lớn nên vất vả.

Cụ thể, theo báo cáo của Đại tá John Cadwalader thì Coldfeet Cadwalader đã thu được thông tin tình báo “có giá trị rất lớn”. ONR đã biết được trạm của Liên Xô được cấu hình để cho phép hoạt động im lặng trong thời gian dài dành cho công tác nghiên cứu âm thanh. Ngoài ra, thiết bị và tài liệu thu được từ NP 8 cho thấy nghiên cứu của Liên Xô về khí tượng và hải dương học vùng cực vượt trội hơn so với các nỗ lực của Mỹ.

CIA còn phát hiện bằng chứng về thiết bị và phương pháp tinh vi của Liên Xô để phát hiện tàu ngầm Mỹ dưới lớp băng Bắc Cực, một mối quan ngại chiến lược lớn. Hiểu rõ hơn về chiến lược của Liên Xô trong việc vận hành và phát hiện tàu ngầm trong môi trường Bắc Cực đầy thách thức.

Về nghiên cứu khoa học, CIA phát hiện ra rằng nghiên cứu khí tượng và hải dương học vùng cực của Liên Xô tiên tiến hơn so với suy nghĩ ban đầu. Thành công về mặt hoạt động của chiến dịch chính là sử dụng thành công đầu tiên của hệ thống Skyhook trong việc giải cứu các điệp viên từ các khu vực khó tiếp cận, đây là một thành công tình báo lớn.

 Về dữ liệu, CIA đã thu hồi hơn 150 pound (khoảng 68kg) tài liệu và và 21 thiết bị từ trạm nghiên cứu NP8. Nó cung cấp cho Mỹ một lượng thông tin tình báo đáng kể về năng lực của Liên Xô tại Bắc Cực, đồng thời xác nhận tính hiệu quả của một công nghệ khai thác mang tính cách mạng cho các hoạt động bí mật sau này.

Liên Xô đã để lại một số túp lều bằng ván ép chứa mọi thứ từ bếp than và máy phát điện đến hàng chục cuộn phim 16mm, sổ ghi chép khoa học và thiết bị. “Thức ăn vẫn còn trên bếp, đông cứng trong những chiếc chảo dầu mỡ. Trong phòng ăn có một tấm áp phích ghi ngày khởi hành và yêu cầu bất cứ ai tìm thấy nó hãy gọi cho Viện Bắc Cực và Nam Cực ở Leningrad”, báo cáo của CIA ghi rõ.

Ngoài ra, CIA còn thu được bằng chứng cho thấy Liên Xô đã sử dụng thiết bị phát hiện âm thanh của tàu ngầm Mỹ. “Với những gì thu thập được cho thấy Liên Xô có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực chống ngầm. Đây là những tài liệu giá trị không chỉ với Mỹ mà còn rất quan trọng đối với chính phủ Liên Xô”, tổng chỉ huy chiến dịch, Đại tá John Cadwalader cho hay.

Bắc Cực và yếu tố địa chính trị

Vùng Bắc cực là khu vực xung quanh Bắc Cực Trái Đất, đối diện với Vùng Nam cực xung quanh Nam Cực. Vùng Bắc cực bao gồm Bắc Băng Dương, các vùng biển lân cận và một phần của Alaska (Mỹ), một phần Bắc Canada, Greenland, Đan Mạch, Nga, Iceland, Na Uy, Thụy Điển và Phần Lan. Vùng Bắc Cực được định nghĩa là khu vực phía bắc, nằm trong vòng Bắc Cực (66o33'B), là nơi đánh dấu điểm cực nam của ngày vùng cực (ngày có mặt trời suốt 24 giờ, thường gọi là mặt trời nửa đêm) và đêm vùng cực (ngày không có mặt trời suốt 24 giờ). Đây cũng được xem là hoang mạc lớn thứ hai thế giới theo diện tích sau châu Nam Cực.

Vùng đất trong khu vực Bắc Cực có tuyết và băng phủ thay đổi theo mùa, với tầng đất đóng băng vĩnh cửu chủ yếu là băng vĩnh cửu (băng ngầm đóng băng vĩnh viễn) có chứa tài nguyên. Biển Bắc Cực chứa băng biển theo mùa ở nhiều nơi. Bắc Cực là một khu vực độc đáo trong số các hệ sinh thái của Trái Đất. Ví dụ, các nền văn hóa trong khu vực và các dân tộc bản địa Bắc Cực đã thích nghi với điều kiện lạnh lẽo và khắc nghiệt ở đó. Cuộc sống ở Bắc Cực bao gồm các sinh vật sống trong băng, động vật phù du và thực vật phù du; cá và động vật có vú biển, chim, động vật trên cạn, thực vật và xã hội loài người.

Khắc Nam

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.