Chuyện về những người con dòng họ Ngô Gia (kỳ 1)

Ngô Gia Tự (1908- 1935) sinh tại làng Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, nay là xã Tam Sơn, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Tham gia cách mạng và bị đày ra Côn Đảo, vượt ngục sau đó mất tích. Nhưng ít người biết rằng, Ngô Gia Tự là hậu duệ nhiều đời của Ngô Quyền và cha, anh của ông đều làm quan.

Hiện nay, một số người cháu của Ngô Gia Tự đã và đang sinh sống ở TP HCM, trong đó có những người nổi tiếng như cố GS.TS Ngô Gia Hy.

Danh gia vọng tộc

Ông Ngô Gia Lễ là anh của ông Ngô Gia Tự. Làm tri huyện Ninh Bình, ông Ngô Gia Lễ sống rất thanh liêm, hết lòng vì dân, tận tụy với công việc. Ông mất vì bạo bệnh khi đang cùng dân chống vỡ đê.

Chúng tôi gặp ông Ngô Gia Thạch, con út của ông Ngô Gia Lễ cùng một người cháu của ông Ngô Gia Lễ là ông Ngô Gia Lương. Ông Lương là con trai cố GS.TS Ngô Gia Hy. Cả hai ông hiện sống ở TP Hồ Chí Minh. Nhờ họ, chúng tôi được biết về những câu chuyện rất thú vị về con cháu của Ngô Quyền, về tổ tiên, cha ông họ.

Ông Ngô Gia Lễ.
Ông Ngô Gia Lễ.

Theo lời ông Ngô Gia Lương (Thạc sĩ Quản trị học, hiện làm việc ở Trường Đại học Hùng Vương, con ông Ngô Gia Hy, cháu gọi ông Ngô Gia Thạch là chú), dòng họ Ngô của họ xuất xứ từ Ngô Quyền. Tổ tiên của dòng họ Ngô có từ thời Hùng Vương dựng nước.

Theo phả tộc họ Ngô, khởi tổ của họ là cụ tổ Ngô Nhật Đại vốn là một hào trưởng ở châu Phúc Lộc (Cửa Sót, Hà Tĩnh). Tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (722), khi cuộc khởi nghĩa thất bại, cụ Nhật Đại đã chuyển cư vào châu Ái (Thanh Hóa) sống bằng nghề nông. Con cụ là Ngô Nhật Du, đến đời thứ 5 là Ngô Mân (tên khác là Ngô Đình Mân, thân phụ Ngô Quyền) đã chuyển đến sinh sống ở Đường Lâm, Hà Tây (nay là Hà Nội).

Ông Ngô Gia Tự.
Ông Ngô Gia Tự.

Sau khi đánh tan quân Hoằng Tháo trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền lên ngôi được ít lâu thì mất. Con cháu nối ngôi không được bao lâu thì xảy ra loạn 12 sứ quân.

Sau loạn 12 sứ quân, con cháu Ngô Quyền phải đi nơi khác ẩn cư. Ngô Xương Sắc (con của Ngô Xương Xí, cháu nội Thiên sách Vương Ngô Xương Ngập, chắt nội của Ngô Quyền) vào châu Ái (Thanh Hóa), truyền tới đời 18, 19 là Ngô Kinh và Ngô Từ (con Ngô Kinh). Ngô Kinh là gia thần của Lê Khoáng (cha của Lê Lợi - Lê Thái Tổ). Ngô Từ là công thần của Lê Lợi, con gái Ngô Từ là Ngô Thị Ngọc Dao, vợ của vua Lê Thái Tông, mẹ của vua Lê Thánh Tông.

Ngô Ích Vệ (con của Ngô Xương Xí, cháu nội Thiên sách Vương Ngô Xương Ngập, chắt nội của Ngô Quyền) vào châu Hoan (Nghệ An) ẩn cư, sau ra Thăng Long đầu triều Lý làm quan, sinh hai con là Ngô Tuấn (Lý Thường Kiệt) và Ngô Chương (Lý Thường Hiến).

Chi phái của ông Ngô Gia Thạch và ông ngô Gia Lương có nguồn gốc từ người con trưởng của Ngô Quyền là Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập. Vào đời thứ 21, thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, ông Ngô Bá Di, vì tránh nạn kiêu binh nên về Tam Sơn, Đông Ngàn, Bắc Ninh để sinh sống. Ông Di đổi tên thành Ngô Hải Sơn, đó là ông tổ của chi phái của hai ông Ngô Gia Thạch và Ngô Gia Lương.

Ông Ngô Gia Lương và cuốn gia phả dòng họ Ngô.
Ông Ngô Gia Lương và cuốn gia phả dòng họ Ngô.

Theo tài liệu của dòng họ Ngô, cũng vào đời 21, ông Ngô Sử Hậu lánh nạn về vùng Tả Thanh Oai, Hà Đông, Hà Tây (nay là Hà Nội). Ông Hậu đổi tên thành Ngô Phúc Cơ là ông tổ của chi phái Ngô Thời ở đây, tổ tiên của danh thần Ngô Thời Nhiệm...

Cũng theo con cháu họ Ngô, còn nhiều chi phái họ Ngô khác cũng có gốc từ Ngô Quyền, trong đó có dòng họ Ngô Đình với Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Nhà thơ Xuân Diệu, tên thật là Ngô Xuân Diệu cũng có gốc từ Ngô Quyền…

Trở lại với câu chuyện của ông tổ chi phái họ Ngô ở Tam Sơn, Đông Ngàn, Bắc Ninh. Đời thứ 4 của chi phái này là ông Ngô Gia Du (chắt của ông Ngô Hải Sơn), là một nhà Nho dạy học, từng tham gia phong trào Đông kinh nghĩa thục. Ông Du có 10 người con, 6 trai và 4 gái. Con trưởng của ông Du là ông Ngô Gia Lễ, người con thứ 9 của ông Du là Ngô Gia Tự. Ông Lễ có 5 người con trai, 1 người con gái. Con trưởng của ông Lễ là ông Ngô Gia Hy (cha của ông Ngô Gia Lương).

Một vị quan thanh liêm yêu dân

Ông Ngô Gia Lễ (1897- 1943) từng làm tri huyện ở nhiều nơi, nơi cuối cùng là huyện Kim Sơn, Ninh Bình dưới triều Nguyễn vào thời Pháp thuộc. Ông nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, yêu dân. Ông Ngô Gia Lễ đỗ bằng thành chung, thông thạo Pháp văn, giỏi Hán văn, thi đậu Thạm biện tài chính ở Hà Nội rồi làm tri huyện ở huyện Yên Mỹ (Hưng Yên), ở huyện Tam Nông (Phú Thọ), ở huyện Gia Viễn rồi phủ Kim Sơn (đều thuộc tỉnh Ninh Bình).

Cuốn gia phả họ Ngô.
Cuốn gia phả họ Ngô.

Theo những tài liệu của dòng họ và lời kể của ông Ngô Gia Thạch, Ngô Gia Lương, ông Ngô Gia Lễ rất thương người, không hề gắt mắng ai bao giờ, thường lấy điều nhân nghĩa khuyên răn. Ông làm việc suốt ngày, bao giờ cũng mang khăn xếp, áo dài the thâm, lắng nghe dân trực tiếp giãi bày những nỗi oan ức, cơ cực của mình. Một tháng 20 ngày, ông đi xuống làng xã để tìm hiểu tình hình thực tế, nhưng không báo trước cho ai, cũng không ghé vào nhà ai ăn uống.

Bữa cơm hàng ngày của ông rất đạm bạc, chủ yếu là rau dưa, tương cà, thi thoảng mới có thịt, cá. Mỗi lần đi kinh lý, ông cho người giúp việc mang theo gạo, bánh chưng hoặc cơm nắm, muối vừng, cà muối. Nếu phải nghỉ lại, ông thường ghé nhà những ông huấn đạo, ông giáo, hoặc vào đình chùa, miếu mạo. Ông và người giúp việc tự nấu ăn. Mỗi khi đi ông thường đi bộ hoặc đi xe kéo, không có xe hơi như những vị quan khác.

Là một vị quan thanh liêm, ông ngăn cấm cấp dưới ăn hối lộ, nhũng nhiễu người dân. Ông nói với các chức sắc trong làng xã như chánh tổng, lý trưởng rằng: “Tôi không ăn hối lộ của ai thì dưới quyền tôi không ai được ăn hối lộ. Tôi sẽ thẳng tay trừng trị những người ăn hối lộ của dân”.

Tính giản dị, không thích nghi lễ cầu kỳ của ông cũng trở nên nổi tiếng. Lúc ông về nhận chức ở Gia Viễn, nha lại và người dân làm cổng chào để đón ông. Thế nhưng ông đã vào đến công đường rồi mà không ai hay biết. Ở Kim Sơn hồi đó có lệ là nhiều phủ huyện khác, các chánh tổng, lý trưởng thường đặt tiền vào đĩa để dâng lễ ra mắt quan phủ mới. Khi họ dâng lễ cho ông, ông từ chối không nhận và nói: “Tiền này nếu không phải là của các thầy đóng góp thì cũng là lấy của dân. Từ nay tôi nghiêm cấm, không được bắt dân đóng góp”.

Người dân hồi đó kể rằng, mẹ ông mỗi khi từ quê Tam Sơn lên thăm ông thường đến các quán nước ở chợ hỏi dò về ông huyện mới có thanh liêm hay không, có thương yêu dân không, có ăn hối lộ mà ức hiếp dân không… Khi biết ông không có tai tiếng gì, bà mới vào thăm con mình.

Ông Ngô Gia Lương đang kể lại câu chuyện về ông Ngô Gia Tự.
Ông Ngô Gia Lương đang kể lại câu chuyện về ông Ngô Gia Tự.

“Hồi đó, các quan phủ huyện mới nhậm chức thường mở tiệc mời các quan chức cấp trên về dự. Ông không mở tiệc mời ai mà các quan huyện, quan phủ khác mời ông dự tiệc, ông cũng từ chối không dự. Không phải vì ông không nể trọng họ, nhưng vì ông sống liêm khiết, không chịu lấy tiền của dân để cung phụng quan trên, do vậy ông không tới dự vì sợ không có khả năng “trả nợ miệng”, phải mời tiệc lại họ. Quan Pháp về kiểm tra công việc, ông cũng không mời ăn, họ phải về tỉnh rồi sau đó lại xuống làm việc. Từ những việc làm, cung cách sống và lối hành xử như thế nên dân chúng ở những nơi ông làm việc thời đó đều nói rằng ông chủ trương làm cách mạng trong giới quan trường”, ông Ngô Gia Lương kể.

Năm 1939, vùng Kim Sơn bị vỡ đê, nước lũ tràn ngập khắp vùng, dân tình nheo nhóc, nhốn nháo vì đói rét, cực khổ. Suốt ngày nắng chang chang, ông ở trên đê. Buổi trưa, ông ăn cơm nắm muối vừng với cà do người nhà chuẩn bị cho ông từ sáng sớm. Sau nhiều ngày đêm vật lộn với chuyện vỡ đê, lũ lụt, ông bị kiệt sức, nhiễm bệnh lao nặng rồi qua đời sau đó. Nhân dân hai huyện Gia Viễn và Kim Sơn đã khóc thương ông rất nhiều. Họ gọi ông là “đại cách mạng gia”.

Nhiều giai thoại của người dân nơi ông nhậm chức cho biết ông là một vị quan khảng khái, không khuất phục quan Pháp. Nhiều lần bị quan Pháp khiển trách là lười biếng không chịu di dân theo mức đã ấn, không chịu truy lùng Cộng sản, Việt minh, ông trả lời là: “Không biết Việt minh ở đâu cả” và viết đơn xin từ chức. Quan Pháp đã phải nhượng bộ, không cho ông thôi việc. Khi làm tri huyện ở Tam Nông, Thông sứ Pháp bắt các huyện phải xem xét những người nào nghi là Cộng sản hay có hành động phá rối an ninh thì phải có tờ trình với tỉnh để bắt họ đi phát vãng ở Lai Châu và những vùng nước độc. Ông đã viết báo cáo bằng tiếng Pháp nhưng rồi lại xé đi, vì sợ những người đi phát vãng sẽ phải chết, làm khổ cho gia đình họ nên ông báo lên cấp trên là nơi ông không có ai như thế.

Tri huyện Ngô Gia Lễ muốn em cố học để ra làm quan, nhưng đồng chí Ngô Gia Tự kiên quyết đi theo con đường cách mạng, cứu dân, cứu nước. Đồng chí Ngô Gia Tự hoạt động cách mạng ở nhiều nơi, trong đó có vùng Nam Kỳ, Sài Gòn cũ. Đến cuối năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Ngày 2-5-1933, sau hơn hai năm bị giam cầm ở nhiều nơi, thực dân Pháp đưa đồng chí Ngô Gia Tự ra phiên tòa “đại hình đặc biệt” xử cùng với 120 chiến sĩ cộng sản và đày ra Côn Đảo.

Vào một đêm năm 1935, chi bộ nhà tù tổ chức cho đồng chí Ngô Gia Tự cùng một số đồng chí nữa vượt ngục Côn Đảo, về khôi phục lại phong trào. Nhưng chuyến vượt ngục đó không thành, Ngô Gia tự cùng các đồng chí mất tích giữa biển.

Ông Ngô Gia Lương cho biết, vào khoảng những năm 1960, một đoàn khách nước ngoài người Đông Nam Á là khách mời của Chính phủ Việt Nam đã đến Tam Sơn, Bắc Ninh. Trong đó có một người đã về thăm nhà thờ họ Ngô ở đây và dừng lại rất lâu mới đi.

(Còn tiếp)

Phạm Huy Văn

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.