Chương trình giam giữ bí mật dưới thời Roosevelt

Đầu năm 1942, khi Thế chiến II đang tàn phá địa cầu, nhiều người Đức đã bị chính quyền Peru bắt giam giữ ở Lima. Vì là người Đức nên họ bị chính quyền Peru coi là những thành phần Đức Quốc Xã (ĐQX) không đáng tin cậy. Việc giam giữ họ là một phần trong chương trình giam giữ rộng lớn hơn của Tổng thống Hoa Kỳ, Franklin Delano Roosevelt.

Tổng thống Mỹ khi đó đã hợp tác với các nước cộng hòa Mỹ Latinh trong chương trình này, bằng cách đưa những người bị hoài nghi là cảm tình viên của Phe Trục đến Mỹ. Gia đình họ khi đó là một phần nhỏ bé trong số 4.058 người Đức, 2.264 người Nhật và 287 người Ý bị trục xuất theo cùng cách tương tự. Họ bị đưa đi như những phạm nhân và bị đối xử như tội phạm.

Chương trình giam giữ bí mật dưới thời Roosevelt -0
Acadia, con tàu đưa những tù nhân Đức bị bắt ở Mỹ Latinh sang Mỹ.

Chính quyền Roosevelt đã trục xuất cưỡng ép những người bị giam giữ, đến khu vực chiến sự đang diễn ra ở châu Âu vào thập niên 1940. Ngày 17/11/1934, Willmar Lorenz đã lên tàu mang tên Tướng Artigas khởi hành từ thành phố Bremen (quê hương Đức của ông). Chàng trai 24 tuổi khi đó chọn cách rời đi để bắt đầu cuộc đời mới ở Montevideo, Uruguay. Dự kiến ông sẽ làm ở Continental - công ty chuyên sản xuất lốp xe của Đức. Trong danh sách hành khách đi tàu có đề nghề nghiệp của ông là “Kaufmann” (nhân viên bán hàng) cho Continental.

Năm 1934 cũng là lần đầu tiên mà một phái đoàn thương mại Đức đi công du Nam Mỹ nhằm thiết lập mối giao hảo kinh tế mà từ đó đã dẫn đến việc chính quyền Roosevelt giam giữ người ở Mỹ Latinh.Willmar đang sắp bước chân vào cái nồi lẩu địa chính trị đang sôi sục, song vào thời điểm đó ông không hề muốn rằng sẽ ra nước ngoài để phục vụ cho lợi ích kinh tế của tổ quốc Đức.

Với nghề nghiệp mới và cùng với người bạn gái Lore Brandt, Willmar có thừa lý do để ở Đức song ông vẫn một mực dứt áo ra đi. Trước đó vài tháng, Adolf Hitler ngoi lên cầm quyền bính. Là người theo chủ nghĩa hòa bình cũng như là con trai của một cựu binh chiến tranh vĩ đại, Willmar Lorenz cảm thấy khó thở với lời lẽ sặc mùi hiếu chiến của Adolf Hitler. Vào những năm sau đó, trong lúc Willmar loay hoay tìm tên gọi mới - dùng với mục đích làm kinh doanh cho hãng Continental trên khắp Nam Mỹ, thì Đức đang tiến gần hơn đến bờ vực chiến tranh.

Bà Lore Brandt vẫn đang ở Đức khi nước này tan rã. Vì muốn bạn gái cùng sống hạnh phúc với mình tại chân trời mới nên ông Willmar đã biên thư cầu hôn bà Lore và chẳng mấy chốc sau đó ông qua lại châu Âu để làm đám cưới. Phải đến ngày 1/1/1939, từ Bremen (Đức), hai ông bà Lore và Willmar lên đường đến Munchen và qua Nam Mỹ, lần này là đến Callao (Peru).

Đi làm ăn trong một cabin riêng, ông Willmar đã hoàn thành nhiệm vụ mà Continental giao phó cũng như sẵn sàng xây dựng gia đình với bà Lore tại Lima. Được dãy Andes hùng vĩ che chở, dường như Lima tách biệt hoàn toàn với một châu Âu đang rất hỗn loạn khi chứng kiến cuối năm 1939, ĐQX phát động xâm lược Sudetenland và tiếp đó là Ba Lan. Đến năm 1942, hai vợ chồng Willmar và Lore có với nhau 2 mặt con lần lượt tên là Heide và Jurgen. Tuy vậy, cũng như những người Đức vô tội khác sống khắp châu Mỹ Latinh khi đó, thốt nhiên ông Willmar phát giác mình có tên trong Danh sách công dân bị chắc chắn ngăn chặn (viết tắt là Danh sách) của Tổng thống Roosevelt vào ngày 27/3/1942. Tháng 12/1941, sau khi Mỹ tuyên chiến với Phe Trục, các chính phủ Mỹ Latinh bắt đầu tiến hành bắt giữ người Đức dựa trên Danh sách mà phía Mỹ cung cấp.

Chính phủ Roosevelt đã gây sức ép với các láng giềng phương Nam nhằm cho phép những người Đức này được đưa qua Mỹ. Sau rốt, chính quyền DR đã đưa 4.058 người Đức từ Mỹ Latinh sang Mỹ. Khi chọn ai đó để gửi đi, một số nước như Peru (nơi gia đình Lorenz đã sống) đã chọn những người có tài sản đáng mơ ước. Chính phủ Peru đã tịch thu tài sản của 702 người Đức được gửi qua Mỹ. Ngày 27/3/1942, một bản ghi nhớ gửi cho Tổng chưởng lý có đoạn “Trợ lý đặc biệt Lemuel B. Schofield mô tả một số kế hoạch cho “2 tàu đón những người ngoài hành tinh từ bờ biển phía Tây Nam Mỹ, Peru, Ecuador và Colombia”. Và 2 tàu khác sẽ vận chuyển “250 sĩ quan” và “250 những thực thể ngoài hành tinh phi sĩ quan của Trục phát xít gồm đàn ông, đàn bà và trẻ con” đến Mỹ để giam giữ”. Vợ chồng Willmar, Lore và 2 con của họ (Jurgen và Heide) nằm trong số các tù nhân này.

Chương trình giam giữ bí mật dưới thời Roosevelt -0
Tên của những người Đức nằm trong Danh sách công dân bị chắc chắn ngăn chặn (viết tắt Danh Sách) của Tổng thống Roosevelt.

Trong bản ghi nhớ của mình, Lemuel B. Schofield viết rằng “con tàu sẽ đến nước này (Mỹ) trong các ngày 27/4 và 30/4”. Vào ngày 29/4/1942, lúc 12 giờ 1 phút trưa tàu Acadia tiến vào cảng New Orleans (tiểu bang Louisiana). Mỗi thành viên trong gia đình Lorenz đều được nêu tên trong danh sách hành khách của tàu Acadia kèm với các thông tin về tinh thần và thể chất gợi đến một số mô tả về tù nhân. Ngay bản thân điều kiện trên tàu cũng đã phản ánh hoàn cảnh các tù nhân.

Mặc dù chỉ có đủ chỗ cho 200 hành khách, nhưng trong suốt 15 ngày lênh đênh hải hành (bắt đầu từ ngày 14/4/1942) từ Caliao (Peru), tàu Acadia  đã chở tới 675 tù nhân Phe Trục trên boong. Thức ăn, nước sạch và vòi tắm gương sen rất khan hiếm. Trước khi xuống tàu, những người bị giam giữ rất mong được tắm rửa và xịt thuốc diệt chấy rận. Rời tàu Acadia, những người Đức được yêu cầu phải có thị thực để nhập cảnh Mỹ. Chả ai trong số họ có nó, vì thế cảnh sát buộc đám đông lại lên tàu Acadia mà không hề cho bất kỳ thứ gì.

Chính bởi sự thiếu hụt thị thực nghiêm trọng này mà các cơ quan thực thi pháp luật của chính quyền FDR có cái cớ để bắt giam những hành khách Đức vô tội. Chính sách khắc nghiệt của Roosevelt đã tước đoạt sạch tài sản của người Đức ở Peru và biến họ thành kẻ phạm luật ở cái nước xa lạ. Franklin Roosevelt không chỉ đẩy gia đình Lorenz vào tình cảnh khó khăn mà chính phủ bất lực của ông cũng phủ bóng đen lên tính cách của ông cố tôi. Chính quyền Mỹ lo ngay ngáy việc các điệp viên ĐQX có thể tái chiếm chính phủ các quốc gia Mỹ Latinh bất kỳ lúc nào, song FBI cam đoan rằng chỉ có 6 điệp viên Đức tại những đất nước đã gửi tù nhân sang Mỹ để giam giữ. Một trong số những điệp viên được xác định trong số đó là Heinrich Loeschner từ Ecuador.

Ngày 11/6/1942, nhằm phản hồi công văn gửi đến Jefferson Patterson (Đại biện lâm thời ở Lima liên quan đến hoạt động gián điệp Mỹ Latinh), văn phòng Bộ Ngoại giao Mỹ đã viết rằng “một số bí danh hoặc tên giả được các điệp viên Phe Trục sử dụng có liên quan đến nhiều tổ chức khác nhau đang điều hành các đài phát thanh bí mật ở Bán cầu này”.

Về bí danh của Heinrich Loeschner, văn phòng bộ ngoại giao Mỹ viết: “Willmar Lorenz được xác định chắc chắn là Heinrich Loeschner ở Quito (Ecuador). Heinrich Loeschner và gia đình đã rời Quito lên tàu Acadia vài tuần trước”. Jefferson Patterson ngờ rằng Willmar Lorenz nằm trong một “đường dây gián điệp” Văn phòng Bộ Ngoại giao Mỹ đã sửa lỗi của Patterson, song sự thật bị ém nhẹm mãi đến ngày 11/6 tức chỉ 2 tháng sau khi ông Willmar bị giam giữ lần đầu tiên. Văn phòng Patterson đã gắn bí danh điệp viên “Lorenz” cho một người đàn ông chỉ bởi vì cái tên ông ta mà không hề tiến hành bất kỳ cuộc điều tra sâu hơn nào. Ngay sau khi Thế chiến II bùng nổ, khi FBI đang bắt đầu thu thập tình báo ở Mỹ Latinh, Jefferson Patterson đã hạ lệnh cho các thuộc cấp phải xác định cụ thể số người Đức trong khu vực mà có thể dùng làm con tin để trao đổi với các tù chiến tranh Mỹ tiềm năng ở Đức.

Ngày 27/3/1942, Lemuel B. Schofield (Trợ lý đặc biệt của Tổng chưởng lý) đã liệt kê cụ thể những kế hoạch chi tiết về việc trục xuất các hành khách trên tàu Acadia, bao gồm cả gia đình Lorenz: “Một nhóm hành khách trên “con tàu chính thức” sẽ bao gồm 250 sĩ quan của Phe Trục, đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Đây là kế hoạch của Bộ Ngoại giao Mỹ nhằm giữ họ ở lại Mỹ từ 2 đến 8 tuần cho đến khi họ có thể được hồi hương”. Ngày 3/6/1942, lúc 6 giờ 35 phút tối chính xác là chỉ 5 tuần sau khi đặt chân đến Mỹ, gia đình Lorenz đã rời New York trên boong tàu Drottningholm trực chỉ châu Âu. Con tàu cập cảng Lisbon (Bồ Đào Nha) chỉ 9 ngày sau đó.

Cuối cùng, tàu Drottningholm đã trao đổi 932 người Đức để lấy 600 công dân Tây bán cầu. Một bài báo của tờ Palladium-Item phát hành ngày 3/6/1942 đã mô tả về số phận các tù nhân Đức trên Drottningholm như sau: “Một số người chào kiểu Hitler. Số khác vẫy tay. Còn một số người vẻ buồn bã chào kiểu Mỹ mà nhìn là biết rõ”. Chính quyền Roosevelt đối xử công bằng với những người chào kiểu Hitler và chào kiểu Mỹ.

Chương trình giam giữ bí mật dưới thời Roosevelt -0
Ông Willmar Lorez ở Uruguay, năm 1935.

 Việc hồi hương cưỡng bức đã khiến các tù nhân Đức gặp nguy hiểm khi bạo lực của Thế chiến II gia tăng ở Đức. Đầu tháng 5/1940, Không lực hoàng gia Anh bắt đầu đánh bom ngành công nghiệp Đức. Năm sau đó, họ bắt đầu oanh tạc tơi bời các thành phố. Ngày 8/4/1942, khi các điệp viên của Tổng thống Roosevelt đề xuất các kế hoạch trục xuất những gia đình như gia đình Lorenz về Đức, đã có 272 máy bay Anh trút bom xuống thành phố Hamburg. Hai tháng rưỡi sau đó, khi các tù nhân Đức đang chờ đợi lên tàu Drottningholm, 898 máy bay đã đánh phá thành phố Cologne. Đánh phá diễn ra như cơm bữa.

Vào cuối cuộc chiến, vợ chồng Willmar, Lore, cùng các con Jurgen và Heide, đã tình cờ ghé thăm gia đình mà họ đã không gặp suốt nhiều năm vì chuyến đi Nam Mỹ của họ. Có lần khi quân Đồng Minh đang đánh bom dữ dội xuống thành phố, ông Willmar và cha mình phải dập lửa cả đêm trên mái nhà nhằm cứu lấy tính mạng người thân.

Ngôi nhà của họ là duy nhất đứng vững trên núi đổ nát vào sáng hôm sau. Gia đình ông Willmar không quay lại Peru thêm lần nào nữa, thay vào đó họ đã định cư ở Tây Ban Nha sau khi chiến tranh kết thúc. Ông Willmar tiếp tục làm việc tại công ty lốp xe Continental, cũng là công ty mà lần đầu tiên đã đưa ông sang Mỹ Latinh. Hai người con của ông Willmar đã lớn lên trong các cộng đồng kiều dân Đức ở Barcelona và Madrid. Ông bà cố tôi luôn giữ quan điểm cho rằng người Mỹ đã khá tử tế khi giam giữ họ. Đối với họ, hành vi sai trái của việc giam giữ nằm ở chính sách hơn cách thực hiện.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.