"Chiếu chèo thì vuông mà bầu trời lại tròn"

Trong vòng xoáy của nền kinh tế thị trường, của thời gian, nhiều người nhận định hiện nay tác giả viết chèo cổ đang có nguy cơ… tuyệt chủng. Nếu có, chắc chỉ còn lại Trần Đình Ngôn. PGS, nhà lý luận phê bình sân khấu uy tín Tất Thắng từng nhận định: "Sau Tào Mạt người ta thấy có Trần Đình Ngôn".

Và, trong một ngày cuối năm tôi đến thăm ông, một trong những tác giả "còn sót lại" của làng chèo cổ, để đi tìm câu hỏi về một loại hình sân khấu dân tộc đã có lúc tưởng như bị thất truyền.

Ông sinh tại làng Giành, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Ngôi làng cũng như bao làng quê khác ở miền Bắc Việt Nam với những ao chuôm râm ran tiếng ếch nhái, cánh cò trên đồng ruộng, và cảnh sinh hoạt ở bến nước, con đò, nơi có mái đình, cây đa, thôn làng, ngõ xóm đã ăn sâu vào tiềm thức của bao người dân Việt. Ông nội ông là cụ Khóa Thiềm, một người thông thạo nho, y, lý, số, yêu chữ thánh hiền, thường chữa bệnh và thêm cả cách trừ tà cho bà con dân làng.

Đến đời cha của ông, được đi học chữ Nho và theo nghề thuốc, rồi mở lớp dạy học. Tuy nhiên gia đình đói khổ, cơ hàn nên ông cũng phải xoay đủ nghề dệt chiếu, kéo vó bè để lấy tiền mua thóc nuôi cả đàn 7 người con. Cuộc sống thiếu thốn là thế, nhưng ông vẫn có thói quen của một văn sĩ phong lưu.

Nhà viết chèo - Tiến sĩ Trần Đình Ngôn tại nhà riêng.
Nhà viết chèo - Tiến sĩ Trần Đình Ngôn tại nhà riêng.

Nhà viết kịch Trần Đình Ngôn kể: Nhiều năm, Tết đến, mẹ tôi đều mua giấy hồng điều về để cha tôi viết câu đối Tết do ông tự sáng tác. Mỗi năm một đôi, chữ nghĩa có khác nhau đôi chút nhưng nội dung vẫn xoay quanh chủ đề dưỡng tâm, tích đức, cầu phúc, và đặc biệt không bao giờ có chữ lộc, chữ tài trong các câu đối ấy mặc dù cha tôi gần như cả đời nghèo túng.

Đôi câu đối mà tôi nhớ nhất là ông viết vào năm Kỷ Hợi (1959) "Dưỡng tâm xử thế xuân lai diện/ Tích đức hòa nhân phúc đáo gia". Có nghĩa là tu dưỡng đạo đức lấy lòng tốt mà đối xử với thiên hạ thì sắc xuân sẽ về trên gương mặt, lúc nào cũng được sáng tươi. Lo làm việc thiện, ân cần hòa nhã đoàn kết với mọi người thì phúc sẽ đến nhà.

Mẹ ông là người đàn bà như bao nhiêu người đàn bà khác trong xã hội thời xưa ấy, nhất mực yêu chồng, thương con và không biết chữ. Tuy chẳng nhận ra được mặt chữ, nhưng bà lại thuộc làu làu truyện Kiều. Năm lên 10 tuổi, ông nhớ mẹ ông ẵm cô con gái nhỏ ngồi ở chiếc võng tre, hát ru con hai, ba tiếng đồng hồ toàn bằng những ca dao Việt Nam có vần có điệu. Đặc biệt hơn trong mấy tiếng không ngừng nghỉ như thế, tuyệt nhiên những câu ca dao của bà không bao giờ trùng lắp, lặp lại. Chứng tỏ vốn ca dao, tục ngữ của bà phải vô cùng dồi dào, đủ gieo vào lòng cậu con trai niềm yêu thương vốn chữ cổ suốt cả tuổi ấu thơ. Thêm nữa, người làng Giành cũng có những lạ kì hơn những ngôi làng khác, đó là các bà các chị  có người từng thuộc lòng tới gần ngàn câu ca dao dân ca. Họ hát vào những đêm sáng trăng ra đồng tát nước. Họ hát khi sớm tinh sương ra ruộng làm cỏ, gieo mạ. Họ đối đáp nhau bằng tục ngữ, ca dao mỗi khi gặp nhau thăm hỏi chuyện trò.

Trong ngôi làng ấy ít người được đi học chữ thánh hiền, bởi đa số người làng nghèo khó, dù có học hay không có học thì việc chính của trẻ con là phải cắt cỏ chăn trâu, bế em, giã gạo, dũi thóc, phơi sân, đuổi gà, băm bèo tây, nấu cám lợn. Hay cũng có những lúc phải phụ cha mẹ gặt lúa, giở đất ải, tát nước, gánh phân. Cậu bé Trần Đình Ngôn cũng như bao đứa trẻ trong làng chăm chỉ đỡ đần cha mẹ. Công việc làm lụng vất vả, nhưng người dân làng Giành vẫn sinh hoạt văn hóa cộng đồng, văn hóa làng xã.

Theo lệ làng, cứ mỗi khi cúng tế Thành hoàng làng lại mở hội vui mấy ngày. Ban ngày diễn ra các trò vui nhưng đến tối thì diễn chèo. Có khi hát chèo đến hết đêm. Câu: "Ăn no rồi lại nằm khoèo/ Nghe giục trống chèo bế bụng đi xem" dân làng từ tuổi thiếu niên ai cũng thuộc lòng. Văn hóa cộng đồng làng xã, những tích chèo thâu đêm đến sáng chính là nguồn tư liệu phong phú ngồn ngộn áng ca từ thơ văn, những nhân vật mẹ đốp, lý trưởng, hề hoạn… từ vô số tích chèo được diễn ra nơi cửa đình vào những ngày lễ, ngày hội đã nuôi dưỡng tâm hồn cậu bé để lớn lên trở thành tác giả chèo Trần Đình Ngôn.

Vào những năm 1956, 15 tuổi từ nhà đến trường phải đi bộ 7 cây số, nên cha mẹ ông cho ông trọ học ở thị trấn Nam Sách. Ông sống trong căn nhà của bà cô. Nhà bà cô lại có một thùng gỗ ở trên căn gác xép lửng mà bên trong toàn những sách là sách. Tất cả bộ sách của Tự lực văn đoàn, cho đến văn chương Trung Quốc qua bản dịch của Bùi Kỉ, Phan Kế Bính, dịch giả Ngô Văn Triệu.…

Văn học Việt Nam như Nguyễn Dữ, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm… văn học Trung Quốc những bộ Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Đông Chu Liệt Quốc… đều được cậu bé say mê nghiền ngẫm thậm chí quên ăn quên ngủ trong những tháng ngày học trọ. Ông bảo sau này khi bước sang con đường sáng tác, vốn phong tục tập quán ở trong các cuốn của Tự lực văn đoàn đã được ông áp dụng vào thể loại sân khấu chèo rất nhiều.

Gia đình có 7 người con, tác giả Trần Đình Ngôn được người cha xem là có ăn có học, kế thừa được hồn cốt văn chương, yêu chữ thánh hiền nhất nhà. Đến năm 19 tuổi, đang học lớp 10 hệ phổ thông, ông được thầy giáo dạy văn Lê Huy Hậu cử đi thi Văn toàn miền Bắc lần thứ nhất. Ở trường học lúc đó thầy Hậu đã chọn ra hai học sinh Trần Đình Ngôn, và Trần Mai Hạnh (sau này là nhà báo Trần Mai Hạnh). Chấm theo thang điểm 5 là cao nhất, thì ông và Trần Mai Hạnh được điểm 3. Nói về thầy giáo Lê Huy Hậu, đó là một người thầy thông tuệ văn chương, am tường triết lí nhân sinh, mẫu mực liêm trinh, tiết nghĩa, người có ảnh hưởng sâu sắc đến việc định hướng và con đường nhận thức của ông sau này.

Những cuốn sách đã xuất bản của Tiến sĩ chèo Trần Đình Ngôn.
Những cuốn sách đã xuất bản của Tiến sĩ chèo Trần Đình Ngôn.

Ông kể: "Năm 1961, tôi 19 tuổi, đang là học sinh giỏi văn lớp 10 (hệ 10 năm) nên được chọn vào dạy bổ túc văn hóa tại trường Đảng ở Hải Dương. Trong lớp học có nhạc sĩ Văn Diệu, lúc ấy là Bí thư chi bộ Đoàn chèo Tả Ngạn rất quý thầy giáo trẻ. Mùa hè năm 1962, khi đang ôn thi tốt nghiệp phổ thông và chuẩn bị cho kì thi đại học thì có một anh thợ mộc là công nhân hậu đài của Đoàn chèo Tả Ngạn đã đến nơi tôi đang tá túc tại nhà thầy giáo Lê Huy Hậu. Anh thợ trao cho tôi một bức thư của trưởng đoàn chèo Vũ Thanh. Nội dung bức thư nói về cái hay cái đẹp của chèo, về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với nghệ thuật chèo. Lời lẽ viết rất tha thiết ông mong tôi ra nhập đoàn chèo ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông, trước hết làm giáo viên bổ túc văn hóa cho đoàn. 

Gia cảnh khốn khó, đói nghèo nếu vào đại học nếu đỗ không biết sẽ lấy tiền đâu để đóng học, cộng với lời lẽ rất chân tình tha thiết của trưởng đoàn chèo khiến cho bản thân tôi, thầy giáo tôi, cha tôi đều cảm động. Và với sự quyết tâm của tôi, thầy, cha tôi cũng đồng ý. Tôi viết thư phúc đáp cho trưởng đoàn chèo Vũ Thanh, và từ bỏ ý định thi đại học hứa sau khi thi xong lớp 10 sẽ về công tác tại đoạn chèo. Năm 21 tuổi, tôi có vở chèo đầu tiên chuyển thể từ tiểu thuyết "Tắt đèn" của Ngô Tất Tố, được Đài Tiếng nói Việt Nam phát trên truyền thanh và Đoàn văn công tỉnh đội Hưng Yên biểu diễn. Những năm sau đó tôi viết nhiều vở chèo khác…".

Có lẽ, cuộc sống luôn thăng trầm có nhiều biến động, thậm chí có những khúc quanh tưởng như vô vọng, chỉ khi nào đủ ý chí, sức mạnh nghị lực, tinh thần hướng thiện người ta mới có thể băng qua nó, sống sót, duy trì. Tôi tin điều đó và nhà viết kịch Trần Đình Ngôn đã sống như thế.

Đó là vào suốt những năm đầu của thập niên 80 cho đến năm đầu của thập niên 90 của thế kỉ trước, sân khấu chèo đứng vào cuộc khủng hoảng dữ dội và có nguy cơ bị mất chèo cổ. Đạo diễn, NSND Doãn Hoàng Giang là một nhà cách tân làm chèo cải biên (chèo mới). Chèo mới của ông được công chúng đón nhận, nhưng nếu ai đã nặng lòng yêu sâu sắc chèo cổ thì không thể xem được chèo mới.

Thời kì ấy cuộc sống rất cơ cực đói khổ, tác giả chèo Trần Đình Ngôn sống cùng vợ và hai con trong một căn nhà nhỏ tuyềnh toàng, bữa ăn hàng ngày quanh năm suốt tháng chỉ có rau muống luộc chấm mắm tôm chưng. Có những hôm cầm những đồng bạc lẻ ra chợ, tần ngần ở đó một lúc rồi ông lại tay không cầm tiền mang về, tự an ủi mình rằng: "Qua chợ còn tiền". Ông đã từng viết những câu thơ gan ruột, những câu mà sau này trên sân khấu chèo lấy ra từ hiện thực cuộc sống đói khổ, cơ hàn: "Cả thiên hạ đã hóa ra hành khất/ Ăn bữa nay mà chưa biết bữa mai…". Lúc ấy có đoàn chèo muốn có kịch bản của ông nên đã tạm ứng cho ông 40.000 đồng, tương đương với hai chỉ vàng.

 Ông nhận tiền và hì hụi viết, rồi sau khi hay tin đạo diễn Doãn Hoàng Giang sẽ dựng vở chèo này, ông biết chắc chắn vở vào tay đạo diễn sẽ hấp dẫn khán giả, thu được lợi ích kinh tế nhưng sẽ không còn là chèo cổ nữa mà sẽ là chèo cải biên (chèo mới). Thế là ông cương quyết lên lấy kịch bản chèo của mình về.

Nhưng số tiền tạm ứng đã tiêu lẹm vào rồi, nên ông đành xin khất và trả sau. Trưởng đoàn chèo là chỗ thân tình trước đây, không muốn lấy lại số tiền đã tạm ứng, nhưng hơn năm sau đó, ông tích cóp gom góp mãi trả cho đoàn chèo 90.000 đồng, tương đương với hai chỉ.

Ông bảo với ông trưởng đoàn chèo: "Khi anh đưa cho tôi 40.000 đồng, tương đương với hai chỉ vàng thì nay tôi gửi lại anh 90.000  đồng, cũng tương đương với hai chỉ vàng…". Trong gia đình, ông là người chủ yếu chu cấp tiền cho cha mẹ, nhưng phải lúc nghệ thuật chèo bị coi rẻ, tác phẩm hiếm có nơi sử dụng, cái đói cái nghèo cơ hàn, cùng cực đè nặng lên vai nhưng ông nhất quyết trung thành, kiên trì giữ gìn vốn chèo cổ. Ông đã sống như thế. Một văn sĩ giữ đạo làm người.

Ông bâng khuông buồn kể: "Bây giờ chị em tôi nhìn chung đều khấm khá hơn thì cha mẹ tôi đều khuất núi cả rồi. Mỗi khi nhớ lại thuở hàn vi lọt lòng không khỏi bồi hồi thương xót mẹ cha, ngậm ngùi thầm rơi nước mắt". Yên lặng hồi lâu, ông nói tiếp: "Thời vận hanh thông thì người ta biết đến mình, còn không thì mình như con rồng còn ẩn trong mây. Đối với một con người cũng có thời vận".

Tôi biết ông đang muốn nói đến điều gì. Ngày tác giả chèo Tào Mạt còn sống, cái bóng của ông quá lớn che hết tất cả những tác giả tài hoa khác, và Trần Đình Ngôn cũng một phần "thiệt thòi" chịu chung số phận như bao tác giả khác. Mãi đến năm 1995, Hội diễn Sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc tại rạp Hồng Hà, Hà Nội diễn vở "Lời Sấm truyền ở quán Trung Tân" của ông và được Huy chương Vàng.

Sau khi vở diễn kết thúc, có hai cụ ông đứng đợi ở cửa rạp và nhờ mọi người chỉ cho gặp tác giả. Vừa nhìn thấy nhà soạn chèo Trần Đình Ngôn, hai ông cụ reo lên vui mừng: "Tào Mạt thứ hai đây rồi!". Và hôm sau họ hẹn nhau uống trà, đàm đạo chuyện văn chương, chuyện nhân tình thế thái.

Tưởng cuộc đời của ông về sau sẽ an nhàn, xuôi chèo mát mái nhưng có một nỗi buồn thương trĩu nặng đè lên ông gần hai năm nay. Hai vợ chồng ông có hai người con. Người con gái út đã yên bề gia thất; còn người con trai, tác giả chèo Trần Đình Văn vừa mới mất đầu năm 2015, sau một lần đột quỵ. Anh ra đi khi tuổi tròn 40.

Nhắc đến con, ông nghẹn lời, nỗi đau tột cùng âm ỉ lan tỏa và hình như chưa lúc nào nguôi từ khi con mất. Ông bảo năm 2013 hai cha con đều có vở diễn Liên hoan Sân khấu Chèo chuyên nghiệp toàn quốc, Trần Đình Văn được giải tác giả chèo xuất sắc, ông bà rất hạnh phúc, hãnh diện về con. Bạn bè đều bảo với ông bà: "Hổ phụ sinh hổ tử"…

Vậy mà không ngờ người con mà ông rất mực yêu thương, tin cậy lại xa lìa cõi thế ở tuổi còn đang sung sức. Con ra đi đột ngột quá. Mất con ông cảm thấy như mất chính mình. Ở tuổi 75, tuổi cao sức yếu lại thêm nỗi đau quá lớn khiến ông xuống sức ốm o. Ông bảo ngày Văn còn sống, cứ đến Tết cả nhà quây quần bên nhau; đào, quất đủ ca.ã Giờ con đã mất rồi, ông chả còn thiết tha gì nữa cả.

Tuy vậy, từ ngày con mất cho đến nay, hôm nào hai vợ chồng ông cũng giở tập bản thảo của con, có kịch bản đã hoàn thiện, có kịch bản còn đang dang dở ra để biên tập, để đưa cho các đoàn dựng vở. Ông nói: "Dần dần sẽ đưa được hết lên, nhưng mỗi lần đọc kịch bản chèo của con là tôi và nhà tôi lại không cầm được nước mắt". Từ trong bếp, vợ ông nghe thấy vậy, mắt cũng đỏ hoe. Từ trong sâu thẳm, tôi chỉ thầm mong những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với ông bà.

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.