Chiến hạm USS Indianapolis và sự tàn bạo của cá mập

0 giờ 30 phút ngày 30-8-1945, chiến hạm USS Indianapolis thuộc Hải quân Mỹ với thủy thủ đoàn gồm 1.195 người đã bị tàu ngầm Type I-58 của phát xít Nhật do thuyền trưởng Mochitsura Hashimoto chỉ huy, bắn trúng 2 trái ngư lôi.

Hậu quả là hơn 200 ngưới chết tại chỗ, 900 người nhảy xuống biển - trong đó chỉ có 300 người lên được xuồng cứu sinh và được cứu thoát, gần 100 người chết vì suy kiệt và những vết thương. Số còn lại chết vì bị cá mập ăn thịt. Cho đến nay, bi kịch tàu USS Indianapolis vẫn được các nhà sử học xem là một trong những vụ thảm sát tự nhiên lớn nhất lịch sử, gây ra bởi loài động vật hoang dã nổi tiếng tàn bạo…

Vài phút trước thảm kịch

Được khởi công vào ngày 31-3-1930 bởi Hãng đóng tàu New York Shipbuilding, Indiapolis hạ thủy ngày 7-11-1931. Sau chuyến hải hành vượt Đại Tây Dương nhằm đánh giá tính năng hoạt động, chiếc Indianapolis chính thức trở thành soái hạm, chuyên đưa đón tổng thống Mỹ trong các chuyến thăm viếng nước ngoài.

Chiến hạm USS Indianapolis trước ngày bị bắn chìm.
Chiến hạm USS Indianapolis trước ngày bị bắn chìm.

Có chiều dài 186m, rộng 20,14m với 4 động cơ tua-bin hơi nước, USS Indianapolis đạt vận tốc tối đa 37,2km/giờ. Điều hành hoạt động của tàu gồm 1.269 sĩ quan, thủy thủ. Được trang bị 9 pháo hạm 203mm, 8 đại bác 127mm, 44 súng phòng không 25mm và 37mm cùng 2 ống phóng bom chìm chống tàu ngầm, USS Indianapolis được coi là một trong những chiến hạm mạnh nhất của Hải quân Mỹ thời điểm đó.

Năm 1939, Thế chiến II bùng nổ nhưng Indianapolis vẫn giữ vai trò soái hạm. Phải mãi đến năm 1942, nó mới chính thức tham chiến tại mặt trận nam Thái Bình Dương. Từ đó cho tới tháng 6-1945, Iadianapolis có mặt trong nhiều trận đánh quan trọng, giúp quân đội Mỹ chiếm được nhiều hòn đảo chiến lược ở Thái Bình Dương như quần đảo Philippines, đảo Rabaul, quần đảo New Guinea, đảo san hô Tawara, đảo Okinawa, quần đảo Mariana, Saipan, Marsahll...

Ngày 16-7-1945, sau khi đại tu tại Hải quân công xưởng Mare Island, chiến hạm USS Indianapolis lên đường đến đảo Tinian với một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và tối mật: Trong hầm tàu là một lượng chất phóng xạ Uranium-325 đã được làm giàu để lắp vào quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới, mật danh là “Little Boy”.

Ngày 6-8, quả bom Little Boy được người Mỹ ném xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản, khiến 90.000 người chết ngay lập tức, 20.000 người khác chết trong vài hôm sau. Đến ngày 28-8, chiếc USS Indianapolis tiến về phía đảo Leyte, Philippines để gia nhập Lực lượng đặc nhiệm 95, lúc ấy đang ở Okinawa. Không một ai trên tàu nghĩ rằng đó là chuyến đi cuối cùng bởi lẽ từ khi tham chiến cho đến lúc ấy, Indianapolos nổi tiếng là “chiến hạm không thể đánh đắm”.

0 giờ 10 phút ngày 30-8, qua kính tiềm vọng, thuyền trưởng Mochitsura Hashimoto, chỉ huy chiếc tàu ngầm Type I-58 thuộc Hải quân Đế quốc Nhật nhìn thấy chiếc USS Indianapolis nhưng Hashimoto lại tưởng lầm nó là chiếc thiết giáp hạm New Mexico. Vì thế, ngay lập tức Hashimoto ra lệnh phóng lần lượt 2 trái thủy lôi. Trái thứ nhất trúng vào đuôi USS Indianapolis gây nên một đám cháy dữ dội. Trung sĩ McLynn, một trong những người sống sót kể lại: “Một chớp sáng rực rỡ lóe lên rồi ngay sau đó là một tiếng nổ kinh hoàng. 5 hoặc 6 thủy thủ đứng bên khẩu súng phòng không bị sức nổ hất tung. Tất cả họ đều chết. Nhiều người khác từ trong hầm máy điên cuồng tìm đường thoát chạy, thân hình cháy như bó đuốc. Từ sàn tàu họ lao xuống biển rồi chìm nghỉm…”.

Quả ngư lôi thứ 2 nổ ngay hông tàu, cạnh khoang chứa nhiên liệu giết thêm một số sĩ quan, thủy thủ. Nước biển theo lỗ thủng nhanh chóng tràn vào đã khiến hơn 100 người lúc ấy đang ngủ trong những cabin chật hẹp không kịp thoát ra. Tất cả đều chết đuối. Trung úy Halminton, sĩ quan phòng truyền tin nói: “Theo lệnh thuyền trưởng, tôi phát tín hiệu cấp cứu cho các tàu thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 95 nhưng không hề có ai đáp lại. Sau này chúng tôi mới biết mặc dù đã nhận được tín hiệu, nhưng Lực lượng Đặc nhiệm 95 lại cho rằng Hải quân Nhật dò được tần số vô tuyến của USS Indianapolis rồi họ dùng tần số này phát đi tín hiệu cấp cứu để giăng bẫy Hải quân Mỹ…”.

Một số sĩ quan thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 95 cho biết nếu được lệnh, chỉ mất khoảng 2 tiếng là những chiếc khinh tốc đỉnh sẽ có mặt tại vùng biển nơi tàu Indianapolis bị trúng thủy lôi, và số phận của 900 sĩ quan, thủy thủ còn sống sót sẽ không bị bỏ mặc

Nỗi kinh hoàng từ những con cá mập

0 giờ 22 phút kể từ khi chiếc USS Indianapolis trúng 2 quả ngư lôi, nước tràn vào khiến nó nghiêng về một bên rồi chìm dần. Trung sĩ thủy thủ Edgar Harrell kể: “Qua loa phóng thanh, tôi nghe tiếng thuyền trưởng là Chuẩn Đô đốc Charles B. McVay III nói lớn: “Bỏ tàu! Tôi ra lệnh bỏ tàu”.

Type I-58, chiếc tàu ngầm đã đánh chìm chiến hạm Indianapolis.
Type I-58, chiếc tàu ngầm đã đánh chìm chiến hạm Indianapolis.

Không chút chậm trễ, khoảng 300 sĩ quan, thủy thủ lúc ấy đang ở trên boong vội vã hạ thủy những chiếc xuồng cứu sinh, trong đó có Edgar Harrell. 15 phút sau, chiếc USS Indianapolis biến mất, để lại trên mặt biển một đám cháy càng lúc càng lan rộng. Ngoài những người đã chết, hơn 600 người còn lại ở các tầng dưới boong tàu không kịp lên xuồng, chỉ biết đặt sự sống vào những chiếc áo phao.

Theo lời của thủy thủ McDuncan thì họ cố gắng bơi sát nhau, người khỏe mạnh dìu người bị thương. McDuncan kể tiếp: “Đột nhiên tôi nghe thấy nhiều tiếng quẫy nước và tiếng người la hét. Dưới ánh sáng lập lòe của những chiếc đèn tín hiệu cấp cứu gắn trên áo phao, tôi không thể nhìn rõ chuyện gì đang xảy ra. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đó là tiếng kêu của những người bị thương, đang cố gắng vùng vẫy chống lại những con sóng lớn”.

Đến sáng, một cảnh tượng kinh khủng xuất hiện trước mắt Duncan, dưới làn nước xanh thẫm, hàng trăm con cá mập trắng lao vào cắn xé những người đắm tàu, trong tay không một vũ khí tự vệ. Cả một vùng nước rộng lớn đỏ ngầu máu. Theo Duncan, có vẻ như tất cả những con cá mập trắng ở đại dương đều tập trung về đây để dự bữa tiệc thịt người. Ông nói: “Tôi bơi chung với một nhóm khoảng 80 thủy thủ, cố gắng tránh xa bầy cá mập nhưng thỉnh thoảng trong số chúng tôi lại có người biến mất rồi sau đó, họ đột ngột nổi lên nhưng một nửa thân hình của họ, từ bụng trở xuống không còn nữa”.

Ngày thứ ba kể từ khi chiếc USS Indianapolis chìm, nhóm của Duncan chỉ còn lại 17 người. “Khát nước, mất nước và tuyệt vọng, nhiều thủy thủ uống nước biển để cố làm giảm cơn khát nhưng điều đó khiến họ suy kiệt nhanh hơn và chết nhanh hơn”. Trong lúc bơi, họ nhìn thấy một chiếc bè cao su nhỏ, có lẽ rơi ra từ một con tàu nào đó. Bám vào bè, họ quyết định đi về phía Phlippines với hy vọng sẽ được cứu.

Duncan kể: “Xế chiều, chúng tôi thấy một chiếc thùng gỗ trôi bập bềnh trên sóng. Lúc mở nó ra, bên trong toàn là khoai tây thối rữa. Dùng răng, chúng tôi cắn bỏ phần đã thối rồi chia nhau ăn”. Thủy thủ Eugene Morgan cho biết cùng bơi với ông là một nhóm 14 người. Họ buộc chặt những chiếc áo phao lại với nhau để khỏi bị sóng tách ra: “Đột nhiên, một con cá mập lao lên khỏi mặt nước. Tôi thấy rõ cái miệng của nó há lớn với hàm răng sắc nhọn. Nó uốn cong thân hình, nhắm vào một thủy thủ bơi ở vị trí thứ ba hay thứ tư gì đó. Chỉ trong tích tắc, nó lôi luôn cả nhóm này xuống. Mặt nước vỡ tung khi những con cá mập khác xông đến. Khi lũ ác thú đã no nê, nhìn lại, chúng tôi mất 10 người”.

11 giờ trưa ngày thứ năm kể từ khi chiếc Indianapolis chìm, trung úy Wilbur Gwinn, phi công Hải quân Mỹ trong một chuyến bay tuần tra thường lệ đã nhìn thấy một vệt dầu loang trên biển. Lúc đầu ông nghĩ nó thải ra từ một chiếc tàu nào đó nhưng khi cho chiếc V-1 Ventura xuống cách mặt biển 100m, trước mắt Gwinm là nhiều nhóm người trong những chiếc áo phao, trôi dật dờ trên sóng nước.

Váng dầu phủ đầy mặt những người sống sót.
Váng dầu phủ đầy mặt những người sống sót.

Thoạt dầu, Gwinn nghĩ rằng họ đã chết vì xung quanh họ có rất nhiều những con cá mập lượn lờ nhưng rồi ông thấy họ vẫy tay, la hét một cách điên cuồng. Cho máy bay xuống thấp hơn nữa, Gwinm nhận ra họ là Hải quân Mỹ qua những bộ quần áo họ mặc. Lập tức, Gwinn gọi về căn cứ, thông báo những gì ông đã nhìn thấy.

Vài phút sau, trung úy phi công Adrian Marks được lệnh xuất phát với chiếc thủy phi cơ Catalina. Marks kể: “Lúc máy bay hạ cánh xuống mặt biển, nhiều người không còn đủ sức để bơi đến. Cơ phó và 2 nhân viên phi hành đoàn phải leo xuống phao, kéo từng người lên. Theo ước lượng của tôi, trên mặt biển phải đến vài trăm người nhưng vì sức chở của máy bay có hạn nên chúng tôi chỉ vớt được 56 người”.

George Horvath, lính chữa cháy trên chiến hạm Indianapolis và cũng là người đầu tiên được kéo lên chiếc máy bay Catalina kể: “Tôi kiệt sức đến mức tay chân không thể cử động, Vì vậy, tôi phó mặc sinh mạng tôi cho nhóm cứu nạn. Khi chiếc máy bay lướt dần đến chỗ tôi thì cũng là lúc một con cá mập quẫy đuôi vòng lại. Tôi kêu lên: “Chúa ơi, không phải là lúc này”. Thiếu úy Peter Warren, cơ phó của chiếc Catalina cho biết: “Tóc tai, mặt mũi của tất cả những người được chúng tôi kéo lên máy bay đều nhuộm một màu đen do váng dầu, chỉ duy nhất hàm răng của họ là còn trắng. Có người khi đã lên máy bay rồi mà vẫn mê sảng. Họ liên tục la hét: “Cá mập, cá mập!”. Hẳn là những gì họ đã trải qua rất kinh hoàng”.

Mất gần 1 tiếng nữa, tàu khu trục USS Cecil Doyle xuất hiện. Tổng số sĩ quan, thủy thủ được cứu sống là 317 người, có cả thuyền trưởng Charles Butler McVay III. Theo ước tính, trong số 600 người chết, khoảng 500 người chết vì cá mập, số còn lại chết do mất nước và suy kiệt. Những người được cứu sống mất từ 5 đến 10kg thể trọng.

Năm 1946, thuyền trưởng, Charles Butler McVay III bị đưa ra xét xử trước tòa án quân sự vì “không chỉ đạo cho tàu tránh 2 quả ngư lôi cũng như không tổ chức cấp cứu hiệu quả khi phải bỏ tàu” nhưng ông được tha bổng. Năm 1968, Charles Butler McVay III tự sát.

Với Hashimoto, chỉ huy chiếc tàu ngầm Type I-58, sau khi Đế quốc Nhật đầu hàng, ngày 5-12-1945 Hashimoto được đưa từ Tokyo đến San Francisco để ra tòa với vai trò nhân chứng trong vụ đánh chìm chiến hạm Indianapolis. Ông bị giam đến năm 1946 thì được tha.

Tháng 7-2001, Hải quân Mỹ khởi động việc tìm kiếm xác tàu USS Indianapolis nhưng mãi đến ngày 19-8-2017, họ mới phát hiện nó nằm ở độ sâu 5.500m dưới đáy biển phía bắc Philippines nên việc trục vớt xem ra bất khả thi vì quá tốn kém. Robert Kraft, Giám đốc điều hành việc tìm kiếm cho biết USS Indianapolis sẽ mãi mãi nằm đó như một ngôi mộ của các sĩ quan, thủy thủ đã hi sinh theo tàu…

Vũ Cao (theo History – USS Indianapolis Disaster)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.