Chiến hạm USS Indianapolis và sự tàn bạo của cá mập

0 giờ 30 phút ngày 30-8-1945, chiến hạm USS Indianapolis thuộc Hải quân Mỹ với thủy thủ đoàn gồm 1.195 người đã bị tàu ngầm Type I-58 của phát xít Nhật do thuyền trưởng Mochitsura Hashimoto chỉ huy, bắn trúng 2 trái ngư lôi.

Hậu quả là hơn 200 ngưới chết tại chỗ, 900 người nhảy xuống biển - trong đó chỉ có 300 người lên được xuồng cứu sinh và được cứu thoát, gần 100 người chết vì suy kiệt và những vết thương. Số còn lại chết vì bị cá mập ăn thịt. Cho đến nay, bi kịch tàu USS Indianapolis vẫn được các nhà sử học xem là một trong những vụ thảm sát tự nhiên lớn nhất lịch sử, gây ra bởi loài động vật hoang dã nổi tiếng tàn bạo…

Vài phút trước thảm kịch

Được khởi công vào ngày 31-3-1930 bởi Hãng đóng tàu New York Shipbuilding, Indiapolis hạ thủy ngày 7-11-1931. Sau chuyến hải hành vượt Đại Tây Dương nhằm đánh giá tính năng hoạt động, chiếc Indianapolis chính thức trở thành soái hạm, chuyên đưa đón tổng thống Mỹ trong các chuyến thăm viếng nước ngoài.

Chiến hạm USS Indianapolis trước ngày bị bắn chìm.
Chiến hạm USS Indianapolis trước ngày bị bắn chìm.

Có chiều dài 186m, rộng 20,14m với 4 động cơ tua-bin hơi nước, USS Indianapolis đạt vận tốc tối đa 37,2km/giờ. Điều hành hoạt động của tàu gồm 1.269 sĩ quan, thủy thủ. Được trang bị 9 pháo hạm 203mm, 8 đại bác 127mm, 44 súng phòng không 25mm và 37mm cùng 2 ống phóng bom chìm chống tàu ngầm, USS Indianapolis được coi là một trong những chiến hạm mạnh nhất của Hải quân Mỹ thời điểm đó.

Năm 1939, Thế chiến II bùng nổ nhưng Indianapolis vẫn giữ vai trò soái hạm. Phải mãi đến năm 1942, nó mới chính thức tham chiến tại mặt trận nam Thái Bình Dương. Từ đó cho tới tháng 6-1945, Iadianapolis có mặt trong nhiều trận đánh quan trọng, giúp quân đội Mỹ chiếm được nhiều hòn đảo chiến lược ở Thái Bình Dương như quần đảo Philippines, đảo Rabaul, quần đảo New Guinea, đảo san hô Tawara, đảo Okinawa, quần đảo Mariana, Saipan, Marsahll...

Ngày 16-7-1945, sau khi đại tu tại Hải quân công xưởng Mare Island, chiến hạm USS Indianapolis lên đường đến đảo Tinian với một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và tối mật: Trong hầm tàu là một lượng chất phóng xạ Uranium-325 đã được làm giàu để lắp vào quả bom nguyên tử đầu tiên trên thế giới, mật danh là “Little Boy”.

Ngày 6-8, quả bom Little Boy được người Mỹ ném xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản, khiến 90.000 người chết ngay lập tức, 20.000 người khác chết trong vài hôm sau. Đến ngày 28-8, chiếc USS Indianapolis tiến về phía đảo Leyte, Philippines để gia nhập Lực lượng đặc nhiệm 95, lúc ấy đang ở Okinawa. Không một ai trên tàu nghĩ rằng đó là chuyến đi cuối cùng bởi lẽ từ khi tham chiến cho đến lúc ấy, Indianapolos nổi tiếng là “chiến hạm không thể đánh đắm”.

0 giờ 10 phút ngày 30-8, qua kính tiềm vọng, thuyền trưởng Mochitsura Hashimoto, chỉ huy chiếc tàu ngầm Type I-58 thuộc Hải quân Đế quốc Nhật nhìn thấy chiếc USS Indianapolis nhưng Hashimoto lại tưởng lầm nó là chiếc thiết giáp hạm New Mexico. Vì thế, ngay lập tức Hashimoto ra lệnh phóng lần lượt 2 trái thủy lôi. Trái thứ nhất trúng vào đuôi USS Indianapolis gây nên một đám cháy dữ dội. Trung sĩ McLynn, một trong những người sống sót kể lại: “Một chớp sáng rực rỡ lóe lên rồi ngay sau đó là một tiếng nổ kinh hoàng. 5 hoặc 6 thủy thủ đứng bên khẩu súng phòng không bị sức nổ hất tung. Tất cả họ đều chết. Nhiều người khác từ trong hầm máy điên cuồng tìm đường thoát chạy, thân hình cháy như bó đuốc. Từ sàn tàu họ lao xuống biển rồi chìm nghỉm…”.

Quả ngư lôi thứ 2 nổ ngay hông tàu, cạnh khoang chứa nhiên liệu giết thêm một số sĩ quan, thủy thủ. Nước biển theo lỗ thủng nhanh chóng tràn vào đã khiến hơn 100 người lúc ấy đang ngủ trong những cabin chật hẹp không kịp thoát ra. Tất cả đều chết đuối. Trung úy Halminton, sĩ quan phòng truyền tin nói: “Theo lệnh thuyền trưởng, tôi phát tín hiệu cấp cứu cho các tàu thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 95 nhưng không hề có ai đáp lại. Sau này chúng tôi mới biết mặc dù đã nhận được tín hiệu, nhưng Lực lượng Đặc nhiệm 95 lại cho rằng Hải quân Nhật dò được tần số vô tuyến của USS Indianapolis rồi họ dùng tần số này phát đi tín hiệu cấp cứu để giăng bẫy Hải quân Mỹ…”.

Một số sĩ quan thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 95 cho biết nếu được lệnh, chỉ mất khoảng 2 tiếng là những chiếc khinh tốc đỉnh sẽ có mặt tại vùng biển nơi tàu Indianapolis bị trúng thủy lôi, và số phận của 900 sĩ quan, thủy thủ còn sống sót sẽ không bị bỏ mặc

Nỗi kinh hoàng từ những con cá mập

0 giờ 22 phút kể từ khi chiếc USS Indianapolis trúng 2 quả ngư lôi, nước tràn vào khiến nó nghiêng về một bên rồi chìm dần. Trung sĩ thủy thủ Edgar Harrell kể: “Qua loa phóng thanh, tôi nghe tiếng thuyền trưởng là Chuẩn Đô đốc Charles B. McVay III nói lớn: “Bỏ tàu! Tôi ra lệnh bỏ tàu”.

Type I-58, chiếc tàu ngầm đã đánh chìm chiến hạm Indianapolis.
Type I-58, chiếc tàu ngầm đã đánh chìm chiến hạm Indianapolis.

Không chút chậm trễ, khoảng 300 sĩ quan, thủy thủ lúc ấy đang ở trên boong vội vã hạ thủy những chiếc xuồng cứu sinh, trong đó có Edgar Harrell. 15 phút sau, chiếc USS Indianapolis biến mất, để lại trên mặt biển một đám cháy càng lúc càng lan rộng. Ngoài những người đã chết, hơn 600 người còn lại ở các tầng dưới boong tàu không kịp lên xuồng, chỉ biết đặt sự sống vào những chiếc áo phao.

Theo lời của thủy thủ McDuncan thì họ cố gắng bơi sát nhau, người khỏe mạnh dìu người bị thương. McDuncan kể tiếp: “Đột nhiên tôi nghe thấy nhiều tiếng quẫy nước và tiếng người la hét. Dưới ánh sáng lập lòe của những chiếc đèn tín hiệu cấp cứu gắn trên áo phao, tôi không thể nhìn rõ chuyện gì đang xảy ra. Lúc ấy tôi chỉ nghĩ đó là tiếng kêu của những người bị thương, đang cố gắng vùng vẫy chống lại những con sóng lớn”.

Đến sáng, một cảnh tượng kinh khủng xuất hiện trước mắt Duncan, dưới làn nước xanh thẫm, hàng trăm con cá mập trắng lao vào cắn xé những người đắm tàu, trong tay không một vũ khí tự vệ. Cả một vùng nước rộng lớn đỏ ngầu máu. Theo Duncan, có vẻ như tất cả những con cá mập trắng ở đại dương đều tập trung về đây để dự bữa tiệc thịt người. Ông nói: “Tôi bơi chung với một nhóm khoảng 80 thủy thủ, cố gắng tránh xa bầy cá mập nhưng thỉnh thoảng trong số chúng tôi lại có người biến mất rồi sau đó, họ đột ngột nổi lên nhưng một nửa thân hình của họ, từ bụng trở xuống không còn nữa”.

Ngày thứ ba kể từ khi chiếc USS Indianapolis chìm, nhóm của Duncan chỉ còn lại 17 người. “Khát nước, mất nước và tuyệt vọng, nhiều thủy thủ uống nước biển để cố làm giảm cơn khát nhưng điều đó khiến họ suy kiệt nhanh hơn và chết nhanh hơn”. Trong lúc bơi, họ nhìn thấy một chiếc bè cao su nhỏ, có lẽ rơi ra từ một con tàu nào đó. Bám vào bè, họ quyết định đi về phía Phlippines với hy vọng sẽ được cứu.

Duncan kể: “Xế chiều, chúng tôi thấy một chiếc thùng gỗ trôi bập bềnh trên sóng. Lúc mở nó ra, bên trong toàn là khoai tây thối rữa. Dùng răng, chúng tôi cắn bỏ phần đã thối rồi chia nhau ăn”. Thủy thủ Eugene Morgan cho biết cùng bơi với ông là một nhóm 14 người. Họ buộc chặt những chiếc áo phao lại với nhau để khỏi bị sóng tách ra: “Đột nhiên, một con cá mập lao lên khỏi mặt nước. Tôi thấy rõ cái miệng của nó há lớn với hàm răng sắc nhọn. Nó uốn cong thân hình, nhắm vào một thủy thủ bơi ở vị trí thứ ba hay thứ tư gì đó. Chỉ trong tích tắc, nó lôi luôn cả nhóm này xuống. Mặt nước vỡ tung khi những con cá mập khác xông đến. Khi lũ ác thú đã no nê, nhìn lại, chúng tôi mất 10 người”.

11 giờ trưa ngày thứ năm kể từ khi chiếc Indianapolis chìm, trung úy Wilbur Gwinn, phi công Hải quân Mỹ trong một chuyến bay tuần tra thường lệ đã nhìn thấy một vệt dầu loang trên biển. Lúc đầu ông nghĩ nó thải ra từ một chiếc tàu nào đó nhưng khi cho chiếc V-1 Ventura xuống cách mặt biển 100m, trước mắt Gwinm là nhiều nhóm người trong những chiếc áo phao, trôi dật dờ trên sóng nước.

Váng dầu phủ đầy mặt những người sống sót.
Váng dầu phủ đầy mặt những người sống sót.

Thoạt dầu, Gwinn nghĩ rằng họ đã chết vì xung quanh họ có rất nhiều những con cá mập lượn lờ nhưng rồi ông thấy họ vẫy tay, la hét một cách điên cuồng. Cho máy bay xuống thấp hơn nữa, Gwinm nhận ra họ là Hải quân Mỹ qua những bộ quần áo họ mặc. Lập tức, Gwinn gọi về căn cứ, thông báo những gì ông đã nhìn thấy.

Vài phút sau, trung úy phi công Adrian Marks được lệnh xuất phát với chiếc thủy phi cơ Catalina. Marks kể: “Lúc máy bay hạ cánh xuống mặt biển, nhiều người không còn đủ sức để bơi đến. Cơ phó và 2 nhân viên phi hành đoàn phải leo xuống phao, kéo từng người lên. Theo ước lượng của tôi, trên mặt biển phải đến vài trăm người nhưng vì sức chở của máy bay có hạn nên chúng tôi chỉ vớt được 56 người”.

George Horvath, lính chữa cháy trên chiến hạm Indianapolis và cũng là người đầu tiên được kéo lên chiếc máy bay Catalina kể: “Tôi kiệt sức đến mức tay chân không thể cử động, Vì vậy, tôi phó mặc sinh mạng tôi cho nhóm cứu nạn. Khi chiếc máy bay lướt dần đến chỗ tôi thì cũng là lúc một con cá mập quẫy đuôi vòng lại. Tôi kêu lên: “Chúa ơi, không phải là lúc này”. Thiếu úy Peter Warren, cơ phó của chiếc Catalina cho biết: “Tóc tai, mặt mũi của tất cả những người được chúng tôi kéo lên máy bay đều nhuộm một màu đen do váng dầu, chỉ duy nhất hàm răng của họ là còn trắng. Có người khi đã lên máy bay rồi mà vẫn mê sảng. Họ liên tục la hét: “Cá mập, cá mập!”. Hẳn là những gì họ đã trải qua rất kinh hoàng”.

Mất gần 1 tiếng nữa, tàu khu trục USS Cecil Doyle xuất hiện. Tổng số sĩ quan, thủy thủ được cứu sống là 317 người, có cả thuyền trưởng Charles Butler McVay III. Theo ước tính, trong số 600 người chết, khoảng 500 người chết vì cá mập, số còn lại chết do mất nước và suy kiệt. Những người được cứu sống mất từ 5 đến 10kg thể trọng.

Năm 1946, thuyền trưởng, Charles Butler McVay III bị đưa ra xét xử trước tòa án quân sự vì “không chỉ đạo cho tàu tránh 2 quả ngư lôi cũng như không tổ chức cấp cứu hiệu quả khi phải bỏ tàu” nhưng ông được tha bổng. Năm 1968, Charles Butler McVay III tự sát.

Với Hashimoto, chỉ huy chiếc tàu ngầm Type I-58, sau khi Đế quốc Nhật đầu hàng, ngày 5-12-1945 Hashimoto được đưa từ Tokyo đến San Francisco để ra tòa với vai trò nhân chứng trong vụ đánh chìm chiến hạm Indianapolis. Ông bị giam đến năm 1946 thì được tha.

Tháng 7-2001, Hải quân Mỹ khởi động việc tìm kiếm xác tàu USS Indianapolis nhưng mãi đến ngày 19-8-2017, họ mới phát hiện nó nằm ở độ sâu 5.500m dưới đáy biển phía bắc Philippines nên việc trục vớt xem ra bất khả thi vì quá tốn kém. Robert Kraft, Giám đốc điều hành việc tìm kiếm cho biết USS Indianapolis sẽ mãi mãi nằm đó như một ngôi mộ của các sĩ quan, thủy thủ đã hi sinh theo tàu…

Vũ Cao (theo History – USS Indianapolis Disaster)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.