Chiến công của điệp viên Georgi Bolshakov trong cuộc khủng hoảng tên lửa ở Cuba

Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, từng có một điệp viên của Cơ quan tình báo quân sự (GRU) có được công lao đặc biệt quan trọng không kém gì điệp viên huyền thoại Richard Sorge, khi đảm nhiệm vai trò một kênh liên lạc hữu hiệu giữa nguyên thủ quốc gia của hai siêu cường để có thể giải quyết được cuộc khủng hoảng tên lửa tại Cuba.

Những kết quả nghiên cứu được công bố sau này của Viện sĩ Lịch sử Alexander Fursenko đã giúp làm sáng tỏ rất nhiều về sự đóng góp đặc biệt của điệp viên có tên Georgi Bolshakov này…

Georgi Bolshakov sinh năm 1922 tại Moskva trong một gia đình viên chức ngành đường sắt. Tốt nghiệp phổ thông vào năm 1941, ông đăng ký vào học khóa đào tạo phiên dịch quân sự tại Trường đại học ngoại ngữ Moskva. Khi cuộc chiến tranh vệ quốc nổ ra, Bolshakov được điều vào phục vụ trong quân đội, làm phiên dịch viên tại một trung đoàn, trước khi trở thành trợ lý cho chỉ huy một đơn vị quân báo của sư đoàn. Nhờ có khả năng tốt, ông tiếp tục được cấp trên cử đi đào tạo nâng cao tại một loạt trường khác nhau: khóa đào tạo hoàn thiện sĩ quan tình báo, Trường cao đẳng tình báo của Bộ tổng tham mưu và sau cùng là Học viện Ngoại giao quân sự.

Điệp viên Georgi Bolshakov.

Điệp viên Georgi Bolshakov.

Sau khi tốt nghiệp, Bolshakov được điều về phục vụ tại Cơ quan tình báo quân đội (GRU). Với mật danh Mark, ông bắt đầu hoạt động tại Mỹ dưới vỏ bọc một biên tập viên của cơ quan thông tấn TASS tại New York và Washington từ năm 1951 đến 1955. Trong thời gian sống và làm việc tại New York, Bolshakov đã kết bạn với một vài nhà báo Mỹ, đáng chú ý trong đó có phóng viên Frank Holeman của tờ Daily News.

Sau khi trở về Liên Xô, Bolshakov được bổ nhiệm làm sĩ quan đặc nhiệm tại Bộ Quốc phòng, dưới quyền của nguyên soái Zukov. Ngoài sự ưu ái của Zukov, Bolshakov trong thời điểm này cũng thiết lập được những mối quan hệ khá rộng rãi trong các giới chức cao cấp, trong đó có cả việc kết bạn với con rể của Tổng bí thư Khrutsev. Chính mối quan hệ này đã giúp cho Bolshakov có điều kiện quay trở lại Mỹ công tác, cũng như tạo cơ hội cho vai trò trung gian lịch sử của ông về sau này.

Quay trở lại Mỹ với vỏ bọc một tùy viên văn hóa, Bolshakov tiếp tục nhiệm vụ giao lưu mở rộng quan hệ để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ. Đây là giai đoạn mối quan hệ Xô-Mỹ đang rất phức tạp, lại càng trở nên đặc biệt căng thẳng sau vụ Liên Xô bắn rơi chiếc máy bay do thám U-2 của Mỹ. Bolshakov được giao nhiệm vụ tập trung khai thác những thông tin quan trọng về kinh tế - chính trị - quân sự, cũng như dữ liệu về kế hoạch tấn công bất ngờ của Mỹ nhằm vào Liên Xô và các nước trong phe XHCN. Những thông tin được Bolshakov khai thác và chuyển về được trên đánh giá là khá xuất sắc.

Kênh liên lạc không chính thức Moskva - Washington

Tại Washington, Bolshakov gặp lại người bạn cũ trong chuyến công tác đầu tiên là Frank Holeman. Thực ra, đó không phải là lần tái hợp đầu tiên của họ: cả hai đã phối hợp khá chặt chẽ trong chuyến công du của phó tổng thống Richard Nixon (năm 1959) và sau đó là trong chuyến thăm của Khrutsev tới Mỹ.

Trong hồi ký về sau này, được công bố vào đầu năm 1989, tức là chỉ vài tháng trước khi qua đời, Bolshakov đã thổ lộ rằng, mối quan  hệ của ông với Holeman như những người thân trong nhà. Họ thường xuyên tới thăm nhau và bàn bạc về những vấn đề gay cấn nhất trong mối quan hệ Xô-Mỹ.

Holeman cũng có người bạn Edwin Hatmann đang là thư ký báo chí của Robert Kennedy, Bộ trưởng Tư pháp trong chính quyền mới. Ông đã kể cho bạn về những mối quan hệ của mình trong đại sứ quán Liên Xô, đặc biệt là với Bolshakov. Theo đề nghị của Hatmann (rất có thể từ sự gợi ý của Robert Kennedy), Holeman cần tổ chức một cuộc gặp riêng giữa ông ta với Bolshakov. Trước đề xuất của người bạn Mỹ, Bolshakov đã báo cáo lên trên nhưng chỉ nhận được câu trả lời duy nhất – không cho phép ông được gặp em trai của đương kim Tổng thống Mỹ.

Nhưng vào ngày 9-5-1961, Bolshakov vẫn mạnh dạn đồng ý gặp gỡ Robert Kennedy sau một lần sắp đặt chu đáo của Holeman. Cuộc gặp gỡ với người em trai của Tổng thống Mỹ đã kéo dài trong suốt 4 giờ. Kết quả là lời đề nghị của Robert nhằm thiết lập một kênh liên lạc không chính thức giữa lãnh đạo hai nước thông qua Bolshakov. Báo cáo của ông về vụ việc trên nhanh chóng được chuyển về Moskva và được điện Kremlin phê chuẩn sau một thời gian cân nhắc.

Kể từ thời điểm đó cho tới khi rời khỏi Mỹ vào tháng 12-1962, Bolshakov đã rất năng nổ trong việc thực hiện các chức năng của “kênh liên lạc không chính thức” giữa điện Kremlin và Nhà Trắng. Chỉ tính từ tháng 9-1961 cho đến tháng 9-1962, ông đã gặp Robert Kennedy tổng cộng hơn 40 lần, chưa kể những lần trò chuyện qua điện thoại.

Có thể thấy, việc Kennedy mong muốn một kênh liên lạc bí mật với giới lãnh đạo Xôviết đã cho thấy phần nào sự phức tạp của vị tổng thống trẻ ngay trong nội các của mình. Khi chiến dịch can thiệp tại vịnh “Con lợn” lâm vào tình cảnh bế tắc, theo như cựu giám đốc Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) Allen Dulles viết trong hồi ký, ông ta tin rằng Kennedy sẽ hành động “đúng đắn”, tức là gửi thêm quân cứu viện của Mỹ để ngăn chặn thất bại. Đó vẫn là những trò thông thường của CIA vào thời điểm đó.

Nhưng lần này, có lẽ nhờ vào những thông tin từ kênh liên lạc với Moskva, Tổng thống Mỹ vẫn giữ quan điểm cứng rắn của mình. Kennedy kiên quyết nói không với hàng loạt những đề nghị mở rộng chiến dịch can thiệp. Thái độ này đã khiến Chủ tịch hội đồng tham mưu liên quân, tướng Lyman Lemnitzer đã tức tối buộc tội Kennedy đã sớm “giương cờ trắng đầu hàng”. Nhưng vị tổng thống trẻ tuổi vẫn không hề lay chuyển.

Chiến dịch “Anadyr”

Tháng 8-1961, cuộc khủng hoảng Berlin nổ ra, khi Mỹ điều 1.500 quân từ Tây Đức sang Tây Berlin. Nhiều quan chức thân cận của Kennedy đã bắt đầu cho rằng, chiến tranh hạt nhân là “một phương án mạo hiểm có thể chấp nhận được”.

Cũng chỉ một tháng sau, Liên Xô khôi phục lại các hoạt động thử vũ khí hạt nhân sau gần 3 năm tạm ngừng. Cuộc khủng hoảng lên cao tới đỉnh điểm sau khi hai bên dàn xe tăng đối diện nhau tại bức tường Berlin trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Tổng thống Kennedy yêu cầu em trai mình gặp gỡ Bolshakov, chuyển giao thông điệp cho Khrutsev nhằm tháo ngòi nổ căng thẳng. Kennedy cho rằng, hai bên cần phải rút toàn bộ số xe tăng khỏi khu vực trên để tránh xảy ra xung đột. Đề xuất trên đã được hai bên phối hợp kịp thời, khi lần lượt rút hết số xe tăng chỉ trong vòng 24 giờ sau.

Ngày 2-3-1962, Bolshakov và Robert Kennedy gặp nhau ngay bên ngoài Bộ Tư pháp Mỹ để bàn về khả năng tổ chức một cuộc gặp cấp cao lần thứ hai giữa hai bên. Robert tìm cách thuyết phục Bolshakov rằng, anh trai mình không hề mong muốn khôi phục lại việc thử vũ khí hạt nhân, đồng thời sẵn sàng gặp lại Khrutsev.

Tuy nhiên Liên Xô vào thời điểm đó đã biết khá tường tận về những kế hoạch chiến tranh hạt nhân của Mỹ. Cơ quan tình báo quân sự đã báo cáo cho Khrutsev những thông tin đáng tin cậy khẳng định, Lầu Năm Góc đã có những bước chuẩn bị khá nghiêm túc cho kế hoạch tấn công hạt nhân chống Liên Xô. Những nguồn tin có được từ Cơ quan An ninh quốc gia (NSA) cho biết, những vụ thử hạt nhân quy mô của Liên Xô đã khiến người Mỹ phải chùn bước trong các kế hoạch của mình vì họ cho rằng, tiềm năng hạt nhân của Moskva mạnh hơn nhiều so với dự tính ban đầu.

Trong khoảng thời gian giữa năm 1962, Bolshakov và Robert đã gặp nhau tổng cộng 7 lần, dù những nỗ lực của họ không giúp đạt được một tiến bộ nào trong các cuộc đàm phán Xô-Mỹ. Ngược lại, thông tin về những kế hoạch tấn công hạt nhân của Mỹ, cùng với việc triển khai các căn cứ quân sự mới tại Italy và Thổ Nhĩ Kỳ của Washington đã khiến cho Moskva quyết định bắt đầu chiến dịch “Anadyr”, bí mật chuyển tên lửa tới Cuba để làm đối trọng với tiềm năng hạt nhân của Mỹ.

Cuối tháng 8, Bolshakov chuẩn bị nghỉ phép. Ngày 31-8, Robert mời ông tới nhà với lý do chia tay, nhưng cả hai sau đó cùng đi vào Nhà Trắng, nơi Tổng thống Mỹ đã chờ sẵn với lá thư riêng gửi cho Khrutsev.

Ông chủ Nhà Trắng còn nhờ nhắn nhủ thêm với nhà lãnh đạo Xôviết rằng, đã ra lệnh chấm dứt các chuyến bay giám sát những con tàu của Liên Xô hướng về Cuba. Khi về đến Moskva, Bolshakov mới được biết, Khrutsev đang đi nghỉ tại Pitsunda, trước khi ông được triệu tập ngay tới đây. Nhà lãnh đạo Xôviết đã hỏi han rất kỹ về khả năng Mỹ tấn công vũ trang vào Cuba, tình hình cụ thể tại Washingotn, nhất là về quyền lực thực sự của gia tộc nhà Kennedy trên chính trường Mỹ.

Ngay khi Bolshakov quay trở lại Washington vào ngày 3-10, Robert đã chờ đón ông với vẻ giận dữ. Người Mỹ cho rằng, Bolshakov đã cố tình đánh lừa họ về việc Liên Xô đã bí mật bố trí các tên lửa tại Cuba, trong khi bản thân họ gần như đã hoàn tất kế hoạch “Mongoose” nhằm can thiệp vũ trang lật đổ chính quyền Fidel Castro.

Nhờ có Bolshakov, Khrutsev và Kennedy đã tìm được tiếng nói chung để ngăn chặn nguy cơ của một cuộc chiến tranh hạt nhân Xô – Mỹ.

Nhờ có Bolshakov, Khrutsev và Kennedy đã tìm được tiếng nói chung để ngăn chặn nguy cơ của một cuộc chiến tranh hạt nhân Xô – Mỹ.

Trong cuộc gặp trực tiếp với anh em nhà Kennedy sau đó vào ngày 23-10, Bolshakov được cho xem những bức ảnh chụp các tên lửa Xô Viết tại Cuba, đồng thời được đề nghị cho ý kiến về phương án có thể giải quyết cuộc khủng hoảng này. Ông đã khẳng định với Tổng thống Mỹ rằng, hành động trên chỉ thuần túy mang tính chất phòng thủ, là sự phản ứng của Liên Xô trước việc Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự tại Thổ Nhĩ Kỳ và Italy.

Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng diễn ra vào ngày 27-10, sau khi tên lửa của Liên Xô bắn rơi chiếc máy bay do thám U-2 của Mỹ tại Cuba. Ngay chiều hôm đó, Robert Kennedy có cuộc gặp với đại sứ Liên Xô tại Liên Hợp Quốc và sau đó là với Bolshakov. Ông nhấn mạnh rằng, Tổng thống Mỹ sau khi ra lệnh phong tỏa Cuba, giờ đang trở thành “tù nhân từ chính những hành động của mình”, rằng bản thân cũng chỉ có thể “kìm hãm giới quân sự hành động trong vài ngày nếu không có tín hiệu phản hồi tích cực từ Moskva”.

Thông tin được chuyển ngay về Moskva, giúp cho cuộc khủng hoảng kịp thời được giải quyết: tên lửa và máy bay ném bom của Liên Xô được đưa khỏi Cuba, còn người Mỹ từ ngày 1-4-1963 đã dỡ bỏ các căn cứ tên lửa của mình tại Thổ Nhĩ Kỳ. Tổng thống Kennedy ra lệnh tạm dừng chiến dịch “Mongoose”, dù về sau vẫn được tiếp tục triển khai một thời gian dài nữa, theo khẳng định của các nhà nghiên cứu Mỹ. Cũng trong năm 1963, Liên Xô và Mỹ ký thỏa thuận cấm thử một phần vũ khí hạt nhân.

Sứ mệnh lịch sử của Bolshakov đến đây là kết thúc, dù ông bị những người bạn Mỹ của mình cáo buộc đã cố tình đánh lừa giới lãnh đạo Mỹ về vấn đề tên lửa tại Cuba. Những bài báo về sứ mệnh đặc biệt của Bolshakov về sau đã xuất hiện trên những tờ báo hàng đầu của Mỹ, nhiều khả năng do sáng kiến của Robert Kennedy.

Sự nhìn nhận muộn màng

Trường hợp của Bolshakov cho thấy, tình báo đôi khi không chỉ là phương tiện để đánh lừa hay khai thác bí mật của đối phương, mà còn có thể là công cụ cảnh báo và điều hòa khủng hoảng cũng như xung đột. Nếu như điệp viên huyền thoại Richard Sorge trước đây từng nói, ông hoạt động tình báo không phải để chống lại nước Nhật và nhân dân Nhật, mà chỉ để chống lại cuộc chiến giữa Liên Xô và Nhật Bản; thì Bolshakov hoàn toàn có thể có vai trò như vậy trong việc ngăn cản chiến tranh Xô - Mỹ. Nhưng các quan chức GRU khi đó lại không coi Bolshakov có đóng góp gì lớn, mà đơn là chỉ là người chuyển giao thông tin giữa hai bên.

Sau khi trở về Liên Xô, Bolshakov có thời gian về làm việc cho Cơ quan thông tấn “Novosti” với hy vọng sẽ được tiếp tục sự nghiệp của mình nhờ sự nâng đỡ của Khrutsev. Tuy nhiên, việc Khrutsev buộc phải rời bỏ cương vị của mình vào tháng 10-1964 đã khiến người hùng trước đó không lâu của tình báo Xôviết bị ngó lơ và rơi vào quên lãng. Người đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba qua đời một cách lặng lẽ vào năm 1989. 

Theo viện sĩ Fursenko, mãi đến tháng 5-1998, nhờ có sự tác động của Yevgeny Primakov (khi đó là giám đốc Cơ quan tình báo đối ngoại), Andrei Kokoshin (thứ trưởng bộ quốc phòng) và cả Vladimir Putin (phó chánh văn phòng tổng thống khi đó), Bolshakov mới được truy tặng huân chương danh dự dành cho chiến sĩ tình báo.

Hồng Sơn (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.