Bi kịch của một bậc thầy phản gián CIA

Trong lịch sử của Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA), cái tên James Jesus Angleton là một trong số những nhân vật rất đáng chú ý.

Từng được coi là một huyền thoại trong giới lãnh đạo hoạt động phản gián của Mỹ, Angleton luôn bị ám ảnh bởi những âm mưu lớn từ đối thủ chính KGB về những kế hoạch tung tin giả, hay về những gián điệp đang “chui sâu, leo cao” tại các cơ quan trọng yếu của nước Mỹ.

Những chiến dịch, kế hoạch truy quét, thanh trừng do Angleton khởi xướng thậm chí có nhiều thời điểm được đánh giá là gây ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của CIA.

Đỉnh điểm bi kịch này của Angleton thậm chí còn thể hiện ở chỗ: Một chuyên gia nghi ngờ người khác như Angleton còn từng bị coi là một gián điệp cao cấp của KGB…

Người có khuynh hướng mạo hiểm

Angleton, vốn chỉ là một sinh viên tốt nghiệp trường dân sự, đã nhập ngũ và có cơ hội tiếp nhận những kinh nghiệm của một điệp viên tầm cỡ chiến lược ngay từ những năm của Đại chiến thế giới thứ hai, khi ông ta phục vụ tại Cơ quan tình báo chiến lược (OSS), là tiền thân của CIA.

Tại đây, ông ta đã có dịp làm quen và kết thân với nhiều quan chức cao cấp tương lai của tình báo Mỹ, tạo điều kiện cho bước đường thăng tiến sau này.

Trong những năm hoạt động tại châu Âu vào thời điểm trên, Angleton từng làm việc tại bộ phận phản gián X-2 của OSS ở London, giúp cho ông ta bước đầu tích lũy được nhiều kinh nghiệm cũng như cả sự đam mê trong lĩnh vực trên. Vấn đề là những nhân viên của đơn vị này là những người Mỹ duy nhất được phía Anh cho tiếp cận với các bí mật khai thác được từ chiến dịch “Ultra” (chiến dịch bẻ khóa loại máy mật mã Enigma của phát xít Đức).

James Jesus Angleton.

James Jesus Angleton.

Angleton khi đó đã đặc biệt ấn tượng với những nguyên tắc bảo mật của người Anh – khi những người có khả năng tiếp cận những thông tin trên phải xuất thân từ gia đình có ít nhất 3 thế hệ đã sống tại Anh.

Tuy nhiên, thiện cảm của Angleton đối với những người bạn từ London đã giảm bớt đi phần nào sau vụ phát hiện nhóm “Bộ tứ Cambridge”, trong đó có cả người bạn của chính ông ta – một điệp viên cao cấp có uy tín Kim Philby lại từng làm việc cho Liên Xô trong suốt nhiều năm. Tuy nhiên mối quan hệ này lại không hề ảnh hưởng đến sự nghiệp sau này của Angleton, cho dù có không ít lãnh đạo của mật vụ Mỹ biết được.

Liên quan đến những hoạt động của Angleton tại Italy vào những năm 1940, kinh nghiệm thực tế của ông ta tại đây với tư cách đại diện của mật vụ Mỹ chủ yếu là “đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản” bằng cách mua chuộc cử tri và huy động một số phe nhóm mafia địa phương (thực tế cũng bằng tiền bạc) để ngăn cản nguy cơ Đảng cộng sản Italy lên nắm quyền.

Quay trở lại Washington sau chiến tranh, Angleton từng có thời gian đảm trách quan hệ với các cơ quan tình báo đồng minh. Trong một bản tin chính thức, ông ta từng chỉ đạo tiến trình giúp đỡ thành lập ra cơ quan mật vụ của Israel. Nói chung, với những quan điểm chống cộng mang tính cực đoan, Angleton đã rất nhanh chóng thăng tiến trên con đường sự nghiệp của mình.

Đứng đầu cơ quan phản gián

Angleton đã có một bước ngoặt trọng đại vào năm 1954: theo đề xuất của người đứng đầu CIA khi đó là Allen Dulles, ông ta được bổ nhiệm làm người đứng đầu bộ phận phản gián của cơ quan này. Có được sự hậu thuẫn trên, Angleton cảm thấy mình hoàn toàn có thể tự do thoải mái hành động theo ý. Theo một trong những người viết tiểu sử, Angleton mắc chứng nghiện rượu nặng, hầu như không tập thể thao, nhưng bù lại có sự say mê và khả năng làm việc hết sức ấn tượng. 

Trên cương vị mới, Angleton hoạt động hết sức năng nổ, cố gắng đưa uy tín của bộ phận phản gián tại CIA lên một tầm vóc mới. Ngay từ những năm đầu tiên, những cố gắng của ông ta đã được đồng nghiệp đánh giá là “quá mức”.

Tuy nhiên, những thay đổi căn bản tại đây chỉ thực sự diễn ra từ tháng 12/1961, liên quan đến sự đào tẩu của thiếu tá KGB Anatoli Golisyn cùng đề xuất được phục vụ cho tình báo Mỹ của hắn ta. Angleton là người đã trực tiếp tham gia thẩm vấn Golisyn. Khác với phần lớn các đồng nghiệp khác – về cơ bản đánh giá Golisyn là một kẻ đề cao bản thân quá mức và có khuynh hướng khoác lác – Angleton lại gần như tin tưởng hoàn toàn vào những lời khai của tên phản bội này.

Bắt đầu hoang tưởng

Lời thú nhận của Golisyn về việc Liên Xô đã xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực hoạt động của Mỹ và đồng minh gần như ngay lập tức được Angleton tin sái cổ. Vốn từng say mê nghiên cứu hồ sơ về các chiến dịch đặc biệt của NKVD từ những năm 1920-1930, Angleton từ lâu đã hình thành quan niệm về “một âm mưu toàn cầu của Chủ nghĩa cộng sản”, cũng như thủ đoạn nhằm làm rối trí các chuyên gia phân tích của mật vụ Mỹ - tất cả chỉ nhằm làm xói mòn sự cảnh giác của phương Tây và định hướng những nỗ lực chống Liên Xô của họ theo hướng sai lầm.

Sự hoang tưởng của Angleton bắt nguồn từ những lời khai của tên phản bội Anatoli Golisyn.
Sự hoang tưởng của Angleton bắt nguồn từ những lời khai của tên phản bội Anatoli Golisyn.

Ông ta còn tin vào sự dính líu của Liên Xô vào vụ ám sát Tổng thống Kennedy cũng như một loạt các sự kiện lớn khác vào thời điểm đó.

Đáng chú ý nhất là khẳng định của Golisyn về việc KGB đã cài cắm được một điệp viên có mật danh “Sasha”  vào một chiếc ghế lãnh đạo tại CIA. Điều này đã khiến Angleton cùng cấp dưới, cũng như tổ chức chịu trách nhiệm hoạt động phản gián lớn nhất của Mỹ là Cục Điều tra liên bang (FBI) đã triển khai một chiến dịch qui mô chưa từng có nhằm rà soát lại các nhân viên tình báo.

Hậu quả là hàng chục sĩ quan CIA đã bị rơi vào vòng nghi ngờ, bị triệu hồi về từ nước ngoài, điều chuyển tới những vị trí kém ảnh hưởng hay thậm chí bị sa thải. Một vài người trong số này thậm chí còn bị chính thức điều tra, thẩm vấn nhưng về cơ bản không đạt được kết quả nào.

Nhưng “cơn đau đầu” thực sự của Angleton đã chính thức xuất hiện vào mùa đông năm 1964, khi một nhân viên có tên Yuria Nosenko của KGB chạy sang phía Mỹ. Tên phản bội mới này đã khiến cho nhà lãnh đạo phản gián hàng đầu của CIA thất vọng hoàn toàn khi khẳng định “phía Liên Xô chẳng có lợi lộc gì trong vụ ám sát Tổng thống Kennedy”, cũng như về việc một điệp viên cao cấp đã được cài cắm trong CIA.

Những khẳng định trên của Nosenko chắc chắn sẽ được coi là một đòn thông tin giả, nếu như hắn không tiết lộ cho Washington về vài trăm điệp viên tiềm năng đang hoạt động của KGB, về hàng chục hộp thư bí mật, về những chiếc microphone được gắn trong đại sứ quán Mỹ ở Moscow, cũng như tên tuổi của vài trăm sĩ quan tình báo và phản gián của Liên Xô.

Tất cả những thông tin mới trên không làm lung lay được quan điểm của Angleton. Ông ta tìm mọi cách thuyết phục giới lãnh đạo CIA và FBI rằng, tên phản bội mới trên chỉ “là một trò đánh lạc hướng tinh xảo của Moscow”. Angleton đã đạt được mục đích của mình: Nosenko bị tống vào tù trong suốt 4 năm, kèm theo đó là hàng loạt những biện pháp kiểm tra và thẩm vấn.

Cựu giám đốc CIA Stansfield Turner nhớ lại: “Angleton và người của ông ta đã đặt mục tiêu kiên quyết là phải bẻ gãy ý chí của con người này”. Tuy nhiên, Nosenko đã kiên quyết không phủ nhận những lời khai của mình, nên cuối cùng được trả tự do cùng số tiền bồi thường 80 ngàn đôla.

Bước ngoặt trên tuy nhiên cũng không thể ngăn cản được quyết tâm của người khởi xướng cái gọi là “trò khủng bố trong nội bộ CIA” – theo như các nhân viên vẫn mỉa mai về kế hoạch tìm kiếm gián điệp trong nội bộ của Angleton. Theo chuyên gia nghiên cứu về tình báo Tim Weiner, chiến dịch trên đã “đầu độc” bầu không khí tại CIA, làm dậy lên một làn sóng phản đối, nếu như không nói là nổi loạn trong nội bộ cơ quan này. Các nhân viên có kinh nghiệm đã công khai bày tỏ sự phẫn nộ về việc, Angleton đã làm tê liệt hoạt động của mảng phụ trách về Liên Xô của cơ quan tình báo. Ông ta thậm chí còn bị cáo buộc phá hoại công việc của các điệp viên CIA, can thiệp vào hoạt động của các cơ quan mật vụ khác, thậm chí cả tình báo các nước đồng minh.

Nhưng giám đốc CIA Richard Helms, dù vẫn thừa nhận Angleton “phần nào đã vượt quá giới hạn”, nhưng vẫn cho rằng ông ta là “không thể thay thế”, tảng lờ mọi lời khiếu nại liên quan đến vụ việc trên.

Theo các chuyên gia, sự ưu ái đặc biệt này bắt nguồn từ việc trả ơn của Helms đối với những thông tin mà Angleton đã cung cấp kịp thời trước thời điểm cuộc chiến tranh tháng 7/1967 tại Trung Đông (nhờ mối quan hệ đặc biệt của ông ta đối với giới lãnh đạo tình báo Israel).

Báo cáo nhạy cảm

Tháng 2/1972, Helms nhường chiếc ghế giám đốc CIA cho James Schlesinger. Rất nhanh chóng, Angleton lao vào phòng sếp mới cùng với một bản báo cáo chi tiết về một loạt các nhà hoạt động chính trị tầm cỡ quốc tế bị ông ta nghi ngờ là điệp viên của KGB. Trong danh sách gồm có 30 cái tên này: đáng chú ý có Tổng thống Phần Lan Urho Kekkonen, Thủ tướng Anh Harold Wilson, Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme, các Thủ tướng của Canada là Lester Pearson và Pierre Trudeau, Chủ tịch Đảng Dân chủ xã hội Đức (SPD) Willy Brandt, cựu đại sứ Mỹ tại Liên Xô Averell Harriman, giám đốc điều hành Armand Hammer của tập đoàn Mỹ “Occidental Petroleum Corporation”… và thậm chí cả cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger!

Sau suốt 7 giờ kiên nhẫn lắng nghe những bằng chứng của Angleton, giám đốc mới của CIA dù không thể tin vào những điều trên, nhưng vẫn đặc biệt ấn tượng với “sự tin tưởng của người báo cáo về nhận định của mình”. Angleton vẫn được yên vị trên chiếc ghế cũ, nhưng dần dần bị cảnh báo việc đã vượt quá quyền hạn trong một số vụ truy lùng trái phép các công dân Mỹ có sự dính líu của các nhân viên Angleton và FBI.

Kết cục trớ trêu

Mây đen bắt đầu vần vũ trên đầu Angleton, sau khi William Colby được bổ nhiệm làm giám đốc tiếp theo của CIA. Vị sếp mới không những không thèm để ý tới những nhận định của Angleton, mà thậm chí còn liệt ông ta vào danh sách “những điệp viên tiềm tàng của điện Kremli”, tìm cách loại bỏ nhân vật hiện đã bị phần lớn các nhân viên CIA chán ghét. Một trong những mệnh lệnh đầu tiên của Colby trên cương vị mới là giảm bớt hàng chục nhân viên dưới quyền của Angleton.

Cuối cùng đến tháng 12/1974, sau khi không còn nhẫn nại được nữa, Colby đã yêu cầu Angleton tình nguyện từ chức với một khoản tiền đền bù qua lương hưu. Lý do chính được đưa ra là để giảm bớt sự công phẫn của dư luận sau khi báo chí tiết lộ những thông tin vi phạm nhân quyền có sự dính líu của cả FBI và bộ phận phản gián của CIA. Angleton không còn cách nào khác phải đệ đơn xin từ chức.

Chưa hết, nhân vật kế nhiệm George Calaris lại tiếp tục mở một cuộc điều tra nội bộ về Angleton, trong đó phát hiện ra rất nhiều bằng chứng được xếp vào loại trái pháp luật của người tiền nhiệm (trong đó có hồ sơ của hơn 300 ngàn công dân Mỹ và nhiều nhà lãnh đạo cơ quan phản gián Anh). Hơn nữa, Angleton còn được đánh giá là người dễ nổi nóng và có tư duy không mạch lạc.

Cho đến những năm cuối đời – Angleton qua đời năm 1987 ở độ tuổi 70 – ông trùm phản gián một thời của CIA vẫn ngụp lặn trong nhiều ý nghĩa hoang tưởng, theo như bà vợ của ông kể lại. Tính ra trong suốt hơn 20 năm dẫn dắt bộ phận phản gián của CIA, Angleton đã cáo buộc không biết bao nhiêu điệp viên hai mang.

Nhưng trớ trêu là vào thời điểm cuối cuộc đời, chính ông ta lại là người bị nghi ngờ là… điệp viên KGB.

Tháng 5/1978, Clare Edward Petty, một cựu nhân viên phản gián của CIA đã nghi ngờ chính Angleton mới là điệp viên của Liên Xô, xuất phát từ việc có nhiều chiến dịch săn tìm của Angleton không thành công.

Trong trường hợp CIA bị thâm nhập, Petty còn cân nhắc khả năng cả Anatoly Golitsyn và Yuri Nosenko đã được KGB gửi đến dưới sự hướng dẫn của một điệp hai mang cấp cao hơn là Angleton. Petty không phải là người duy nhất trong CIA nghi ngờ Angleton, bởi theo nhận xét của nhiều người, Angleton là người “nham hiểm và khó lường”.

Dù không tìm được chứng cứ nào đủ để xác thực mối nghi ngờ nhưng đây vẫn là một vết nhơ khó quên trong cuộc đời của Angleton – người đã dành cả sự nghiệp của mình để săn tìm gián điệp, nhưng cuối cùng lại bị nghi ngờ là gián điệp.

Hồng Sơn (tổng hợp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.