Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập

Ngày 30-11 là Ngày Độc lập của đảo quốc Barbados trong vùng biển Caribe. Năm nay là kỷ niệm 55 năm độc lập của đảo quốc này. Nhưng năm nay đặc biệt hơn bởi lễ kỷ niệm Ngày Độc lập còn đánh dấu lịch sử sang trang mới: Babardos trở thành một nước cộng hòa, với nguyên thủ quốc gia là Tổng thống mới được bầu thay thế vị trí của Nữ hoàng Anh.

Lịch sử hòn đảo mang tên “Barbados”

Đảo quốc Barbados nhỏ bé nằm ngoài rìa phía Đông vùng biển Caribe. Thời kỳ lịch sử xa xưa, đây là vùng đất hoang sơ và là nơi cư trú của dân bản địa Siboney có gốc gác từ Florida (thuộc Mỹ ngày nay). Ít lâu sau, người Arawak từ Nam Mỹ đến chiếm đóng hòn đảo và thay thế người Siboney. Người Arawak vốn giỏi nghề nông và dệt vải.

Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập -0
Tổng thống đầu tiên Sandra Mason

Đồng thời họ cũng là những chiến binh cừ khôi chống chọi tốt với những cuộc xâm lăng của các tộc người Caribe khác. Đó là giai đoạn từ thập niên 1490 trở về trước. Đến đầu thập niên 1500, các thủy thủ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã tìm thấy hòn đảo. Thế là hòn đảo bị thực dân Tây Ban Nha đến từ Hispaniola xâm chiếm vào năm 1518.

Người Tây Ban Nha không định cư ở đây bởi vì dường như hòn đảo không có tài nguyên khoáng sản. Đến năm 1536, hòn đảo này bị bỏ hoang, vì những người nô lệ đã bỏ đi hết, ngay cả những cư dân còn lại cũng bỏ trốn.

Gần 100 năm sau, đến khoảng năm 1625, Vua James I của nước Anh đã tuyên bố chiếm hữu hòn đảo. Năm 1627, những người Anh nhập cư bắt đầu định cư ở Barbados và Vua Charles I đã cấp “bản quyền” Barbados cho Lord Carlisle. Sau năm 1660, “bản quyền” này đã được giao nộp lại cho Vương triều và 4,5% thuế xuất khẩu được áp dụng lên hàng hóa của hòn đảo cho đến năm 1838. Từ năm 1627 đến năm 1640, thực dân Anh bắt đầu kéo đến định cư ở Barbados và mang theo lao động thuê mướn từ Anh và một số người châu Phi bị bắt làm nô lệ để sản xuất thuốc lá, sợi bông và bột chàm.

Sự ra đời của ngành mía đường vào những năm 1650 đã dẫn đến sự phát triển của các đồn điền lớn, và đến năm 1685, dân số tại hòn đảo Barbados đã tăng lên khoảng 50.000 người, chủ yếu là nô lệ châu Phi. Cũng cần nói thêm rằng, trong nhiều thế kỷ qua, đường đã trở thành thứ sản vật dành cho những người cực kỳ giàu có của Châu Âu. Ngành mía đường đã phát triển mạnh mẽ trên vùng đất trù phú của Barbados. Địa hình bằng phẳng của hòn đảo đã tạo không gian rộng lớn để phát triển các đồn điền trồng mía.

Vào cuối thế kỷ 18, Barbados có 745 đồn điền do hơn 80.000 nô lệ châu Phi và con cháu họ làm việc. Chính mô hình sử dụng nô lệ châu Phi làm việc trên các cánh đồng mía rộng lớn đã khởi đầu một “cuộc cách mạng về đường” khiến nước Anh trở nên giàu lên một cách phi thường và tạo ra một mô hình sản xuất mới lan rộng khắp châu Mỹ.

Nhưng những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em làm việc trên các cánh đồng mía của Barbados phải chịu sự tàn bạo không thể tưởng tượng được. Điều kiện làm việc khắc nghiệt, sự đối xử tàn bạo đó đã dẫn đến các cuộc nổi dậy của nô lệ vào năm 1702 và 1816. Từ đó, chế độ nô lệ bị bãi bỏ trên khắp Đế quốc Anh vào năm 1833–1834.

Con đường đi đến độc lập

Các thiết chế chính trị cũng bắt đầu hình thành ngay từ khi người Anh đặt chân đến Barbados. Văn phòng Toàn quyền và một Hội đồng được thành lập vào năm 1627, và một Viện Quốc hội được thành lập vào năm 1639, nhưng do điều kiện về quyền sở hữu tài sản nên cơ quan này phải chịu sự chi phối của các chủ sở hữu đồn điền.

Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập -0
Thái tử Charles thay mặt Hoàng gia Anh đến dự và chúc mừng

Một Ủy ban điều hành được thành lập vào năm 1881, với các chức năng tương tự như chính phủ ngày nay. Nhượng quyền thương mại được mở rộng vào năm 1944 và các đảng phái chính trị khác bắt đầu ra đời vào năm 1946. Tiếp theo là sự xác lập quyền bầu cử phổ thông dành cho người lớn vào năm 1951, hệ thống bộ trưởng đầy đủ vào năm 1954 và chính phủ có nội các hoạt động vào năm 1958.

Đảng Lao động Barbados (BLP), phát triển từ các tổ chức công đoàn, được thành lập dưới sự lãnh đạo của Grantley Adams (sau năm 1958 chuyển giao cho tiến sĩ Hugh Cummins) và hoạt động vì mục tiêu cải thiện kinh tế và mở rộng các quyền chính trị của công nhân. BLP đã giành được đa số trong Hạ viện từ năm 1944 đến năm 1961. Năm 1955, sự chia rẽ trong BLP dẫn đến sự ra đời của Đảng Lao động Dân chủ (DLP) do Errol Barrow lãnh đạo. Ông Barrow đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1962. Như vậy, đến năm 1958, Barbados đã có chính quyền tự trị “ảo” và một hệ thống dân chủ, được chính thức công nhận vào năm 1961. Các thành viên được đề cử và nội các chính phủ không còn được ngồi trong Ủy ban điều hành, và Toàn quyền buộc phải chấp nhận các quyết định của Ủy ban này.

Barbados từng là thành viên của Liên bang West Indies, được thành lập vào năm 1958. Khi Liên bang bị giải thể vào năm 1962, chính phủ Barbados tuyên bố ý định giành độc lập của riêng mình. Năm 1964, Ủy ban điều hành bị bãi bỏ và nhiệm vụ điều hành đất nước được chuyển giao cho nội các. Hội đồng Lập pháp được thay thế bằng Thượng viện. Hội nghị Lập hiến Barbados được triệu tập vào tháng 6-1966 và có sự tham dự của đại diện của cả ba đảng trong Cơ quan lập pháp Barbados, tất cả đều nhất trí về mục tiêu giành độc lập riêng. Tất cả các bên tại Hội nghị đều nhất trí mong muốn Barbados được chấp nhận là thành viên của Khối thịnh vượng chung và đồng ý rằng quyền hành pháp của Barbados nên được trao cho Nữ hoàng và được Toàn quyền thay mặt thực hiện. Ngày Độc lập được ấn định vào ngày 30-11-1966.

Theo lời cố vấn của Thủ hiến Barrow, cơ quan lập pháp cũ đã bị giải thể vào ngày 10-10-1966, khoảng hai tháng trước khi hết hạn theo luật định và cuộc bầu cử được tổ chức vào ngày 3-11-1966. Không giống như các cuộc bầu cử trước sử dụng các khu vực bầu cử một thành viên, cuộc bầu cử này được tranh luận bằng cách sử dụng các khu vực bầu cử hai thành viên, trong đó mỗi cử tri có hai phiếu bầu. Kết quả là Đảng Lao động Dân chủ (DLP) giành chiến thắng, giành được 14 trong số 24 ghế. BLP giành được tám ghế và đảng Quốc gia Barbados giành được hai ghế.

Barbados giành độc lập, thoát khỏi chế độ thuộc địa Anh vào năm 1966. Việc này được ấn định bởi Đạo luật Barbados Độc lập 1966 được thông qua ở Hạ viện Anh vào ngày 15-11, có hiệu lực từ ngày 30-11-1966. Vào lúc nửa đêm 29 rạng sáng ngày 30-11-1966, Barbados đã trở thành một quốc gia có chủ quyền độc lập trong Khối thịnh vượng chung, chấm dứt 361 năm cai trị của Anh. Barbados là nước phụ thuộc thứ tư của Anh ở Caribe giành độc lập, sau Jamaica (1962), Trinidad and Tobago (1962), và Guyana (1966). Errol Barrow trở thành Thủ tướng đầu tiên và Sir John Stow là Tổng đốc đầu tiên.

Barbados - từ thuộc địa đến quốc gia độc lập -0
Nữ hoàng Anh Elizabeth II đến thăm Barbados nhân dịp nước này trở thành quốc gia độc lập ngày 30-11-1966

Sau khi giành được độc lập, Barbados chính thức thông qua hệ thống chính phủ nghị viện Westminster, với một Toàn quyền đại diện cho Vương triều Anh. Các quyền và đặc quyền mà đế quốc Anh dành cho Toàn quyền vào năm 1652 được sử dụng làm nền tảng cho Hiến pháp năm 1966, quy định hệ thống nghị viện lưỡng viện do Thủ tướng đứng đầu và một nội các.

Theo hiến pháp, Nghị viện bao gồm Quốc vương Anh do Toàn quyền làm người đại diện, Thượng viện và Hạ viện. Toàn quyền do Quốc vương bổ nhiệm và phục vụ theo ý muốn của quốc vương. Quyền hành pháp ở Barbados thuộc về Toàn quyền, Thủ tướng và một nội các gồm ít nhất năm bộ trưởng. Hiến pháp quy định một Hạ viện được bầu và Thượng viện được chỉ định.

Nước Mỹ ngay lập tức công nhận nền độc lập của Barbados và mở Đại sứ quán Mỹ tại thủ đô Bridgetown vào Ngày Độc lập năm 1966. Barbados gia nhập Liên Hợp Quốc vào tháng 12-1966; gia nhập Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) năm 1967. Ngày 4-7-1973, Barbados cùng với một số quốc gia khác trong vùng như Trinidad and Tobago, Guyana và Jamaica đã ký Hiệp ước Chaguaramas ở Trinidad thành lập Cộng đồng và Thị trường chung Caribe (CARICOM).

Trang sử mới và cơ hội, thách thức

Vào đúng Ngày Độc lập 30-11-2021, Quý bà Sandra Mason – Toàn quyền cuối cùng của Barbados thuộc Anh, đã trở thành Tổng thống thể chế cộng hòa đầu tiên trong lịch sử đảo quốc Barbados sau lễ tuyên thệ nhậm chức được tổ chức long trọng tại thủ đô Bridgetown. Một sự kiện mang nhiều ý nghĩa, với sự có mặt của Thái tử Charles đại diện cho Hoàng gia Anh. Thái tử Charles đã thay mặt Nữ hoàng Anh Elizabeth II chuyển thư chúc mừng đến Tổng thống Mason và người dân Barbados.

Barbados trở thành một quốc gia cộng hòa độc lập, không còn vai trò nguyên thủ quốc gia của Nữ hoàng Anh, có nghĩa là Vương quốc Anh không còn kiểm soát các công việc của nước này nữa. Bây giờ đó là trách nhiệm của Tổng thống mới được bầu Sandra Mason và chính phủ của bà. Nhưng không giống các quốc gia khác khi từ bỏ vai trò nguyên thủ của Nữ hoàng đồng thời rút khỏi khối Thịnh vượng chung, Barbados vẫn duy trì là thành viên khối Thịnh vượng chung. Barbados đã chọn lựa cách “chia tay” nhẹ nhàng và từ tốn, chia tay nhưng không chấm dứt hẳn để tránh “cú sốc”. Nhưng việc duy trì thành viên khối Thịnh vượng chung sẽ tạo ra một kiểu mối quan hệ rất đặc biệt và cũng vô cùng phức tạp giữa hai nước.

Là một quốc gia độc lập cũng có nghĩa là Barbados phải xây dựng hiến pháp, biểu tượng, biểu trưng, quân đội và hộ chiếu. Là một quốc gia độc lập, Barbados sẽ phải chỉ định các đại sứ ở nước ngoài. Họ sẽ là những người thay mặt Barbados ký các hiệp ước và trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế khác nhau. Điều này rất quan trọng, vì nó mang lại cho quốc gia quyền bình đẳng trong các vấn đề khác nhau liên quan đến thương mại quốc tế, các chính sách và hiệp ước. Cơ hội phát triển đất nước đang rộng mở trước mắt cho người Barbados và họ chắc chắn sẽ đón nhận một cách nồng nhiệt nhất.

Nhưng bên cạnh cơ hội phát triển, những thách thức dành cho một quốc gia độc lập cũng không hề ít. Thách thức lớn nhất hiện nay chính là đại dịch COVID-19 đang hoành hành trên phạm vi toàn cầu. Một nền kinh tế non trẻ, chập chững bước đi những bước độc lập đầu tiên trong bối cảnh đại dịch toàn cầu, khó tránh khỏi những vấn đề khó khăn.

Trong đó ngành du lịch là kinh tế chủ lực của Barbados, quanh năm tiếp đón hàng triệu du khách “đói nắng” chủ yếu đến từ Anh và châu Âu đang chững lại do đại dịch. Làm sao khôi phục đà tăng trưởng của ngành du lịch trong điều kiện dịch bệnh COVID-19 sẽ là bài toán nan giải đầu tiên mà Tổng thống đầu tiên Sandra Mason sẽ phải tìm lời giải cho tốt.

An Châu (Tổng hợp)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.