Vũ khí dầu mỏ trong cuộc đối đầu giữa các cường quốc

Lịch sử cho thấy nhu cầu dầu mỏ từ các quốc gia thành viên của Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã suy giảm mạnh vào đầu thập niên 1980 và phương Tây triển khai nhiều dự án khoan thăm dò dầu mỏ ở Bắc Hải, Alaska và Vịnh Mexico.

Ngày nay các công ty dầu mỏ phương Tây đang nỗ lực tìm kiếm những trữ lượng bổ sung. Và, khoảng 40% trữ lượng dầu mỏ mới trên toàn thế giới được khám phá ở vùng biển sâu. Điều đó cho thấy vũ khí dầu mỏ thật ra chỉ trực tiếp chống lại những người sở hữu dầu mỏ!

Sự thật về sức mạnh răn đe của vũ khí dầu mỏ

Vũ khí dầu mỏ được sử dụng lần đầu tiên vào mùa hè năm 1967, tức không lâu sau sự bùng nổ cuộc Chiến tranh 6 ngày. Lúc đó, các bộ trưởng dầu mỏ Arab họp bàn cách trừng phạt phương Tây và quyết định ngưng bán dầu cho Mỹ và Anh sau khi Israel không kích những mục tiêu ở Ai Cập.

Nhưng biện pháp này không có được hiệu quả như mong muốn nên các quốc gia Arab buộc phải dỡ bỏ lệnh cấm này chỉ sau vài ngày thực thi. Lý do là Liên Xô ngay lập tức lấp đầy khoảng trống dầu mỏ mà Arab tạo ra, đồng thời nguồn thu nhập của Arập cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Cuối cùng, vũ khí dầu mỏ được sử dụng lần đầu tiên đã thất bại.

Iran và phương Tây thường sử dụng dầu mỏ làm vũ khí đối đầu nhau.

Iran và phương Tây thường sử dụng dầu mỏ làm vũ khí đối đầu nhau.

Dầu mỏ được dùng làm vũ khí lần thứ hai vào 7 năm sau đó, tức sau sự bùng nổ Chiến tranh Yom Kippur vào tháng 10-1973, nhưng nó cũng có tác dụng ngược. Lúc đó, liên minh OPEC quyết định tăng gấp đôi giá dầu thô từ 2,90 USD đến 5,11 USD một thùng. OPEC cũng quyết định giảm 5% sản lượng dầu thô một tháng cho đến khi Israel rút quân khỏi vùng lãnh thổ nước này chiếm đóng năm 1967. Phản ứng của phương Tây gần như là hoảng loạn và người tiêu thụ bắt đầu lo tích trữ xăng dầu cho phương tiện giao thông và hệ thống lò sưởi.

Nhưng sự sợ hãi thật ra đã bị thổi phồng. Ví dụ nước Đức chỉ thiếu hụt 12 triệu trong số 370 triệu tấn dầu tiêu thụ trong một năm, một con số dễ dàng được bù đắp từ những nguồn khác. Nói khác đi, không có sự đình trệ nào thật sự xảy ra và mặt trận thống nhất của OPEC chống lại phương Tây đã nhanh chóng tan vỡ. Algeria rút khỏi lệnh cấm vận dầu mỏ của OPEC trước tiên, sau đó đến Iraq. Khi vài quốc gia sản xuất dầu mỏ tăng giá dầu đến 11,65 USD một thùng vào ngày 23-12-1973, Saudi Arabia - quốc gia thành viên quan trọng nhất của OPEC - không tán thành lệnh cấm vận. Một lần nữa, vũ khí dầu mỏ không đem lại hiệu quả như mong muốn.

Sự thiếu thống nhất trong OPEC vẫn tiếp tục xảy ra cho đến ngày nay. Kể từ khi thành lập vào năm 1960, OPEC từng có sự chia rẽ nội bộ giữa một bên là những quốc gia như Saudi Arabia, nước có trữ lượng dầu mỏ khổng lồ và luôn có kế hoạch dài hạn, và một bên là những quốc gia cứng rắn ủng hộ biện pháp đối đầu bất chấp hậu quả. Nhưng thực tế cho thấy biện pháp cấm vận dầu mỏ chỉ gây hại cho các quốc gia thành viên OPEC.

Ahmed Zaki Yamani, cựu bộ trưởng dầu mỏ của Saudi Arabia, thường cảnh báo những nước thành viên của liên minh không nên có những hành động quá mạnh tay. Tháng 11-1973, Yamani nói mục tiêu của OPEC không là "làm tê liệt và huỷ hoại" nền kinh tế của các quốc gia phương Tây. Yamani biết rằng mỗi cú sốc giá dầu chỉ gây nên hậu quả tai hại, bởi vì khi giá dầu tăng cao thì các quốc gia công nghiệp bắt đầu tìm kiếm các nguồn năng lượng khác thay thế.

Ví dụ, các nhà chế tạo ô tô sẽ phát triển những chiếc ô tô tiết kiệm nhiên liệu hơn, và nhà thầu xây dựng sẽ tăng cường thêm chất cách nhiệt cho mỗi công trình của họ. Vũ khí dầu mỏ được các quốc gia tiêu thụ sử dụng cũng chẳng có hiệu quả gì. Những ví dụ từ Iraq, Nigeria, Sudan và Libya đã chứng minh cho thấy những biện pháp cấm vận dầu mỏ khó thực thi như thế nào cũng như dễ tìm cách tránh né chúng ra sao.

Ngoài ra, những quốc gia tiêu thụ dầu mỏ cũng không là một nhóm thuần nhất khi phải trừng phạt một nước như Iran. Đối với các quốc gia như Hàn Quốc và Nhật Bản có nhu cầu 10% dầu thô từ Iran. Hàn Quốc không dễ vi phạm những hiệp ước đã ký kết với Tehran. Nhật Bản càng cần lượng lớn dầu mỏ hơn nữa sau thảm họa hạt nhân Fukushima. Dù sao thì trong bất cứ trường hợp nào, vũ khí dầu mỏ cũng là công cụ không hiệu quả đối với cả nhà sản xuất lẫn người tiêu thụ. Bởi vì cả hai phía đều phụ thuộc lẫn nhau - nhà sản xuất cần tiền còn người tiêu thụ cần nhiên liệu.

Chính sự phụ thuộc lẫn nhau này cuối cùng sẽ dẫn đến… sự thoả hiệp. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, cả hai bên đối đầu đều sẽ phải chịu mất mát về phần mình. Trong quá khứ, Iran và Saudi Arabia cũng từng lao vào cuộc chiến tranh đặc biệt làm tiêu hao sinh lực kinh tế của cả hai quốc gia trong vài thập niên - với vũ khí lựa chọn là dầu mỏ chứ không là chất nổ. Cả hai chế độ cùng cảnh báo một cách sắc sảo rằng mặc dù bom đạn có thể giết người, nhưng chúng không thể gây phá sản mà chỉ có sự suy sụp đột ngột trong thu nhập từ dầu mỏ mới có thể dẫn đến hậu quả ghê gớm đó.

Trong thời gian sau này, một số tài liệu giải mật của chính quyền Mỹ tiết lộ vào mùa hè và mùa thu năm 1976, ngay giữa chiến dịch tranh cử tổng thống căng thẳng của hai đối thủ mạnh Ford - Carter, nhóm cố vấn kinh tế của tổng thống Gerald Ford lo ngại giá nhiên liệu tăng cao có thể dẫn đến sự sụp đổ tài chính toàn cầu. Vào 3 năm trước đó, Shah Reza Pahlavi đã mưu mô một "cú sốc dầu mỏ" gây tăng giá phi mã làm lung lay những đế chế tài chính phương Tây.

Để thanh toán những hoá đơn dầu mỏ cao cắt cổ của OPEC, các quốc gia Nam Âu buộc phải vay những khoản tiền khổng lồ từ những nhà cho vay tư nhân và cả các ngân hàng ở Wall Street - bao gồm Bank of America, Citibank, Chase Manhattan và Morgan.

Các ngân hàng này cho vay quá nhiều tiền và quá nhanh đến nỗi vào cuối năm 1976 họ có nguy cơ thấy rõ là những con nợ châu Âu tiến gần đến mức mất khả năng trả nợ. Sự lo sợ của Alan Greenspan và những quan chức khác trong chính quyền Ford là Bồ Đào Nha, Italy và Tây Ban Nha có thể bị vỡ nợ dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính nguy hiểm.

Washington buộc phải quay sang cầu cứu Saudi Arabia và hoàng gia nước này đồng ý bơm dầu vào thị trường với giá rẻ. Quyết định của Saudi Arabia đã đánh đòn đau vào nền kinh tế thiếu sinh khí của Iran. Saudi Arabia muốn dạy Shah Reza Pahlavi một bài học và họ đã có được thành công khi thu nhập từ dầu mỏ của Iran bị suy sụp vào đầu năm 1977 gây mất ổn định kinh tế nước này và từ đó dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính làm lung lay nền móng chế độ Pahlavi.

"Chúng ta đang khánh kiệt", Pahlavi rên rỉ khi sản lượng dầu mỏ của Iran sụt xuống 38% chỉ trong vòng có 9 ngày - tương đương 2 triệu thùng dầu một ngày. Một con số gây choáng váng chính quyền Iran. Vũ khí dầu mỏ mà Saudi Arabia sử dụng chống lại Iran lúc đó đã góp phần làm mất đi sự ủng hộ của người dân đối với chính quyền của Pahlavi, từ đó dẫn đến cuộc cách mạng Hồi giáo năm 1979. 

Cuộc chiến dầu mỏ mà hoàng gia Saudi Arabia phát động chống Reza Pahlavi đã trở thành khuôn mẫu cho những sự đe dọa và mưu đồ nham hiểm ngày nay giữa sự đối đầu của hai quốc gia Saudi Arabia và Iran. Người Saudi Arabia luôn hiểu rõ những điều mà người phương Tây không thể hiểu nổi - đó chính là dầu mỏ đồng thời là hàng hoá và thứ vũ khí siêu mạnh.

Đối với họ, dầu mỏ tạo nên sự thịnh vượng, phát triển kinh tế quốc gia và bảo vệ quyền lực hoàng gia. Nhưng, dầu mỏ cũng là công cụ hàng đầu để bảo vệ quốc gia, một vũ khí tấn công tiềm tàng và chiếc chìa khoá cho an ninh và sự sống còn của hoàng gia.

CIA và kế hoạch "chính sách khắc chế" chống Liên Xô

Năm 2016, một số tài liệu tuyệt mật được giữ kín trong suốt nhiều năm dài tiết lộ Mỹ và Anh có kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân để ngăn chặn Liên Xô chiếm đoạt những nguồn dầu mỏ có giá trị ở Trung Đông. Hồ sơ mật - được tờ Politico Magazine phát hiện tại Thư khố Quốc gia Anh ở London - phơi bày khá chi tiết về những bước đi của Mỹ và Anh nhằm vô hiệu hóa nguồn dầu mỏ Trung Đông như thế nào. Các tài liệu tại Thư viện Tổng thống Truman ở Mỹ cũng tiết lộ về kế hoạch này.

Hải quân Iran bắn tên lửa Mehrab trong cuộc tập trận "Velayat-90" ở Eo biển Hormuz, ngày 1-1-2012.
Hải quân Iran bắn tên lửa Mehrab trong cuộc tập trận "Velayat-90" ở Eo biển Hormuz, ngày 1-1-2012.

Vào một ngày mùa hè năm 1951 ở thủ đô London nước Anh, sĩ quan George Prussing ở Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) có mặt tại trụ sở Bộ Dầu mỏ và Năng lượng Anh và nói chuyện với 3 giám đốc điều hành người Anh làm việc cho 3 công ty dầu mỏ - Iraq Petroleum, Kuwait Oil và Bahrain Oil - về một kế hoạch tuyệt mật đối phó với Liên Xô của chính quyền Mỹ. Prussing đề nghị sự giúp đỡ và đồng ý hợp tác với CIA. Prussing cũng nhấn mạnh về vấn đề an ninh, bao gồm việc giữ bí mật đối với các quốc gia mục tiêu ở Trung Đông bao gồm Saudi Arabia, Iran và Iraq.

"An ninh hiện nay quan trọng hơn sự thành công của bất cứ chiến dịch nào", Prussing nói với họ. Mục đích kế hoạch là tàn phá ngành công nghiệp dầu mỏ ở Trung Đông nếu như khu vực rơi vào quyền kiểm soát của Moscow. Cụ thể là, các giếng dầu sẽ bị bít lại, trang thiết bị và các  kho dự trữ dầu bị phá hủy, các nhà máy lọc dầu và đường ống dẫn dầu được vô hiệu hóa - nghĩa là bất cứ hành động gì nhằm ngăn chặn Liên Xô sở hữu những nguồn dầu mỏ có giá trị. CIA gọi kế hoạch tuyệt mật là "chính sách khắc chế".

Điều khôi hài là, vào năm 1941, Anh và Liên Xô là đồng minh thời chiến và cả hai cùng triển khai Chiến dịch Countenance để chống lại khả năng người Đức kiểm soát nguồn dầu mỏ ở Trung Đông. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, ông Stalin và Liên Xô lại trở thành kẻ thù của Mỹ và Anh khi cuộc Chiến tranh Lạnh bắt đầu hình thành.

Đã hơn 60 năm trôi qua kể từ khi tổng thống Mỹ Harry S. Truman phê chuẩn kế hoạch gọi là NSC 26/2 để ngăn chặn quân đội Liên Xô nắm giữ nguồn dầu mỏ Trung Đông. Các tài liệu từ Thư khố Quốc gia Anh cho thấy lần đầu tiên CIA có vai trò chủ đạo trong kế hoạch biến các công ty dầu mỏ thành lực lượng bán quân sự sẵn sàng thực hiện "chính sách khắc chế" của chính quyền Mỹ. Chương trình giám sát của CIA bao gồm việc bí mật cài một số điệp viên ngầm vào trong nội bộ các công ty dầu mỏ để hoạt động gián điệp.

Tài liệu mật cũng tiết lộ những cuộc bàn luận giữa Mỹ và Anh về kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân ở Iraq và Iran. Giới chức quân sự Anh lúc đó tin rằng bom nguyên tử cũng có thể là lựa chọn để phá hủy những nhà máy lọc dầu. Anh thử nghiệm thành công vũ khí hạt nhân vào đầu thập niên 1950 và năm 1953 - với sự giúp đỡ của Mỹ - lật đổ thủ tướng Iran Mohammad Mossadeg sau khi người này dám đề nghị quốc hữu hóa công ty dầu mỏ Anh-Ba Tư, về sau trở thành BP.

Trước đây, do sự nhầm lẫn tai hại mà kế hoạch NSC 26/2 bị một thủ thư Thư viện Tổng thống Truman - một bộ phận của Cơ quan Quản trị Hồ sơ chính quyền và Thư khố Quốc gia Mỹ (NARA) - giải mật. Do sự tắc trách vô cùng nguy hiểm này mà CIA giận dữ yêu cầu sa thải ngay lập tức người thủ thư. Tuy nhiên, sau đó người này vẫn tiếp tục là nhân viên thư viện song bị tước quyền sử dụng thông tin mật.

Mặc dù sau đó hồ sơ NSC 26/2 được tái phân loại tuyệt mật trở lại, nhưng vào lúc đó công ty Research Publications ở bang Connecticut miền bắc nước Mỹ đã kịp thời gửi hồ sơ giải mật cùng với một số tài liệu vi phim đến cho các thư viện khác trên khắp đất nước. Toàn bộ vi phim không được thu hồi lại do chính quyền cho rằng hành động này có thể thu hút sự chú ý trong dư luận.

Kế hoạch NSC 26/2 được công chúng biết đến vào năm 1996 qua câu chuyện của Charles Crumpley đăng tải trên tờ The Kansas City Star song vẫn còn giữ bí mật một phần. Năm 1953, kế hoạch NSC 26/2 được chính quyền tổng thống Dwight D. Eisenhower thay thế bằng kế hoạch NSC 176 và về sau đổi tên gọi lần nữa thành NSC 5401 với sự nhấn mạnh hành động tăng cường bịt kín những giếng dầu để "bảo tồn" nguồn dầu mỏ Trung Đông để các chính quyền phương Tây sử dụng sau này.

Mặc dù vậy, "chính sách khắc chế" vẫn tiếp tục kêu gọi các công ty dầu mỏ vô hiệu hóa hay phá hủy các cơ sở và trang thiết bị sản xuất dầu nhằm ngăn chặn sự chiếm hữu từ Liên Xô. Do lo ngại sự rò rỉ thông tin mật đến các chính quyền Trung Đông cho nên "chính sách khắc chế" được tái cấu trúc vào năm 1957 với tên gọi NSC 5714. Và, chính sách mới chủ yếu bảo vệ các cơ sở dầu mỏ trước những cuộc  không kích và phá hoại.

Về cơ bản, đây là câu chuyện về tầm quan trọng ngày càng tăng của nguồn dầu mỏ khổng lồ ở Trung Đông cũng như sự thèm khát kiểm soát của phương Tây. Và mãi cho đến ngày nay, chính quyền Mỹ vẫn tiếp tục thể hiện sự thèm khát này bằng sự can thiệp vào khu vực đầy nhạy cảm.

Trang Thuần (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.