Vụ bắt cóc tướng Đức Quốc xã Heinrich Kreipe

Trong suốt Chiến tranh thế giới lần thứ 2, đã có một số tướng lĩnh Đức Quốc xã bị bắt làm tù binh tại mặt trận, nhưng bị bắt cóc ở ngay chính hang ổ của họ thì chỉ một người duy nhất là Thiếu tướng Heinrich Kreipe, Tư lệnh Sư đoàn 22 đổ bộ đường không, đồn trú tại đảo Crete - là lãnh thổ Hy Lạp nhưng bị Đức Quốc xã chiếm đóng.

Vụ bắt cóc được thực hiện bởi 2 biệt kích thuộc Cơ quan hành động đặc biệt Anh Quốc (SOE) với sự hỗ trợ của lực lượng kháng chiến trên đảo Crete. Kế hoạch hoàn hảo đến nỗi khi đã bị bắt, tướng Kreipe vẫn nghĩ đó chỉ là trò đùa tinh quái của bạn bè…

Cuộc săn con mồi lớn

Tháng 5-1941, những người lính Anh Quốc cuối cùng di tản khỏi đảo Crete sau nhiều tháng chống lại những đợt tấn công kinh hoàng bằng pháo binh, xe tăng và máy bay của quân đội Đức Quốc xã. Lúc này, thống trị đảo Crete là tướng Friedrich Wilhelm Muller, một viên tướng quốc xã nổi tiếng tàn bạo. Ngay sau khi chiếm được Crete, Muller đã treo cổ khoảng 2.600 dân bản xứ trong tổng số 450.000 dân - là những người đã cùng quân Anh chống lại quân Đức. Với hành động ấy, Muller được mệnh danh là “Người bán thịt ở Crete”.

Thiếu tướng Heinrich Kreipe, người thống trị đảo Crete.
Thiếu tướng Heinrich Kreipe, người thống trị đảo Crete.

2 tháng sau ngày Đức Quốc xã chiếm đảo Crete, Cơ quan hành động đặc biệt Anh Quốc (SOE) thả dù thiếu tá Patrick Leigh Fermor và đại úy Stanley Moss, xuống đảo. Nhiệm vụ của họ là tập hợp lại lực lượng kháng chiến Crete, cung cấp vũ khí, thu thập tin tình báo đồng thời giúp đỡ một số người bị Đức Quốc xã truy nã, rời khỏi hòn đảo này. Bên cạnh đó, 2 biệt kích còn lên kế hoạch bắt cóc tướng Muller để đưa về Anh, xét xử ông ta vì tội ác diệt chủng.

Tuy nhiên, đầu tháng 1-1944, tướng Muller được Hitler gọi về Đức. Thay thế ông ta là tướng Heinrich Kreipe, Tư lệnh Sư đoàn 22 đổ bộ đường không. Ngay khi lên nắm quyền, Kreipe đã tiến hành thanh lọc toàn bộ cư dân ở Anogia - là một thị trấn nhỏ trên đảo Crete bởi lẽ từ lâu, Anogia được người Đức xem là trung tâm hoạt động của tình báo Anh Quốc. Trước đó, dân Anogia cũng đã bị quy kết là đồng lõa trong vụ giết chết trung sĩ Đức Quốc xã Olenhauer, đồng lõa trong vụ đặt mìn phá hoại căn cứ Đức ở làng Damasta, che giấu du kích và những nhóm kháng chiến chống Đức khác.

Gần cuối tháng 1-1944, thiếu tá Patrick và đại úy Stanley trở về Cairo, Ai Cập (lúc này nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Anh sau khi quân Anh đánh bật “Quân đoàn sa mạc” của tướng Đức Rommel ra khỏi Bắc Phi)). Tại đây, ý định bắt cóc tướng Kreipe được trình lên Bộ Tổng Tham mưu quân đội Anh và được Tổng Tư lệnh quân đội Anh là tướng Montgomery chấp thuận.

Giăng bẫy

9 giờ tối ngày  4-2-1944, chiếc máy bay ném bom Vickers Wellington chở thiếu tá Patrick, đại úy Stanley cùng 2 du kích người Crete là Mainoli Paterakis và Georgi Tyrakis, xuất phát từ Cairo, Ai Cập đến đảo Crete. Do tính toán sai nên khi tiếp cận điểm thả dù, và khi thiếu tá Patrick đã nhảy ra khỏi máy bay thì phi công nhận thấy bãi thả quá hẹp, những người nhảy sau sẽ rơi xuống sườn núi nên ông cho máy bay quay về Ai Cập vì nếu lượn vòng lại - và phải lượn 3 lần - mỗi lần chỉ thả được 1 người, sẽ khiến quân Đức chú ý, yếu tố bí mật sẽ bị mất.

Biệt kích SOE và du kích đảo Crete (Thiếu tá Patrick ngồi giữa, bên phải là Đại úy Stanley) trước ngày bắt cóc tướng Kreipe.
Biệt kích SOE và du kích đảo Crete (Thiếu tá Patrick ngồi giữa, bên phải là Đại úy Stanley) trước ngày bắt cóc tướng Kreipe.

Trong suốt 2 tháng sau đó, để không lộ dấu vết, với sự giúp đỡ của du kích Crete, thiếu tá Patrick lẩn trốn trong những rặng núi phía nam đảo. Đã 8 lần SOE cho máy bay thả dù thêm người nhưng cả 8 lần đều thất bại vì gió thổi quá mạnh, chưa kể 2 lần đại úy Stanley, du kích Paterakis và Tyrakis vào bằng đường biển nhưng cũng không thành công. Mãi đến 23 giờ đêm ngày 4-4-1944, một tàu cao tốc của Hải quân Anh mới đưa được Stanley, Paterakis và Tyrakis đến vùng biển phía nam đảo Crete. Từ đó, họ dùng xuồng cao su chèo vào bờ. Đón họ là thiếu tá Patrick.

Mất 3 ngày men theo những sườn núi chênh vênh, nhóm SOE  đến được làng Kadtamonitza, căn cứ của lực lượng kháng chiến. Tại đây, họ gặp Micky Akaumianos, chỉ huy du kích trên đảo.

Theo Micky, dinh thự của tướng Kreipe nằm cách thành phố Herkalion, trung tâm của đảo 8km, được bảo vệ bởi 1 đại đội lính SS. Vẫn theo Micky, hàng ngày Kreipe ra khỏi nhà lúc 8 giờ sáng bằng chiếc xe hơi hiệu Opel. Trên xe, ngoài tài xế còn có 1 thư ký và 2 cận vệ. Buổi chiều, Kreipe trở về lúc 19 giờ hoặc đôi khi là 22 giờ nếu hôm ấy ông ta ở lại bộ chỉ huy chơi bài, nhưng không có lính đi theo hộ tống.

Ngày 9-4-1944, thiếu tá Patrick và Micky cải trang thành nông dân, lên xe bus vào thành phố Herkalion, trung tâm đảo. Tiếp theo, cả hai tản bộ trên con đường từ Herkalion đến tư dinh tướng Kreipe. Trong suốt 1 tuần, họ tiến hành trinh sát, nắm quy luật đi, về, của tướng Kreipe cùng hệ thống bố phòng xung quanh dinh thự. Sau này Patrick kể lại: “4 mặt dinh thự mỗi mặt đều có 6 lính gác.

Ngày cũng như đêm, cứ 4 tiếng họ đổi ca một lần còn trong khu vườn bao quanh dinh thự, 2 trung đội thay phiên nhau tuần tra. Chưa kể cách đó khoảng 2km còn có doanh trại của 1 tiểu đoàn SS. Nếu báo động, chỉ mất khoảng 10 phút là họ sẽ xuất hiện nên việc đột kích vào tư dinh để bắt sống Kreite là điều không tưởng”.

Cũng trong một buổi sáng trinh sát, khi Patrick và Micky đang đi trên một đoạn dốc thì chiếc Opel chở tướng Kreipe chầm chậm chạy qua. Rất nghiêm chỉnh, thiếu tá Patrick dừng lại, giơ tay lên cao chào theo kiểu Quốc xã. Từ trong xe, ông ta cũng giơ tay chào lại khiến Patrick nghĩ rằng việc bắt cóc Kreipe ngay trên đoạn đường này là điều hoàn toàn có thể thực hiện được. Và nếu 19 giờ mà chưa thấy Kreipe về, lính gác sẽ nghĩ rằng ông ta ở lại chơi bài như thường lệ. Như vậy, nếu thành công, nhóm bắt cóc sẽ có ít nhất 3 tiếng để thoát khỏi sự truy lùng của quân đội Đức.

Tù binh Thiếu tướng Kreipe (giữa) lúc chờ tàu cao tốc Hải quân Anh đến đón (ảnh do du kích Crete chụp).
Tù binh Thiếu tướng Kreipe (giữa) lúc chờ tàu cao tốc Hải quân Anh đến đón (ảnh do du kích Crete chụp).

Quay trở lại căn cứ kháng chiến, thiếu tá Patrick thông báo cho đại úy Stanley biết mọi chi tiết của kế hoạch bắt cóc. Ngoài 2 du kích là  Paterakis và Tyrakis đã cùng đi với họ từ đầu, Patrick chọn thêm 4 du kích có kinh nghiệm chiến đấu, biết rõ địa hình vùng này rồi tiến hành tập dượt.

Theo đó, khi Patrick và Stanley chặn xe chở tướng Kreipe lại, 6 du kích lập tức phải vô hiệu hóa tài xế, thư ký cùng 2 cận vệ. Lúc đã bắt được Kreipe, cả nhóm sẽ rút về làng Kasdtamonitza để Patrick báo tin cho một bộ phận của SOE ở Cairo, Ai Cập bằng máy vô tuyến. Với sự hỗ trợ của lực lượng du kích, Patrick và Stanley sẽ áp giải Kreipe đến bờ biển phía nam đảo, nơi 1 tàu cao tốc của Hải quân Anh đợi sẵn để đưa Kreipe về Ai Cập.

Đùa thế là đủ rồi!

Ngày 18-4-1944, thông qua 2 cảnh sát người Crete làm việc cho Đức Quốc xã nhưng có cảm tình với quân kháng chiến, chỉ huy nhóm du kích Crete là Micky nhờ họ mua cho Patrick và Stanley 2 bộ quân phục của lính SS cùng mũ, giày và 2 khẩu tiểu liên Stein. Xẩm tối ngày 20-4, nhóm bắt cóc bí mật đến đoạn đường gấp khúc, nơi chiếc Opel chở tướng Kreipe buộc phải đi chậm lại nhưng khi gần tới, bất ngờ họ thấy chiếc Opel lướt ngang. Kreipe hôm ấy về sớm hơn thường lệ.

Hôm sau, rồi hôm sau nữa, kế hoạch bắt cóc tướng Kreipe cũng thất bại vì ông ta ngủ luôn tại nơi làm việc. Đến đêm thứ 4, trời đổ mưa lớn khiến tầm nhìn hạn chế. Có khá nhiều xe chạy qua nhưng nhóm bắt cóc không phân biệt được xe nào chở tướng Kreipe còn xe nào là xe của thường dân, hoặc của những sĩ quan Đức Quốc xã cấp thấp.

Cuối cùng, 21 giờ 30 phút tối ngày 26-4-1944, một du kích làm nhiệm vụ cảnh giới cách địa điểm Patrick ém quân khoảng 300m kéo mạnh sợi giây nối từ chỗ anh ta đến chỗ Patrick, báo hiệu đã thấy chiếc Opel. 25 năm sau, tướng Kreipe kể lại: “Xe bắt đầu chạy chậm để vào khúc quanh thì bỗng nhiên có những chớp sáng màu đỏ xuất hiện. Dưới ánh đèn pha của chiếc Opel là 2 sĩ quan SS đang ra hiệu cho xe dừng lại. Viên thư ký hỏi tôi: “Có nên theo lệnh của họ không, thưa tướng quân?”. Đã quen với việc kiểm soát giao thông nên tôi bảo thư ký: “Cứ làm theo họ”.

Khi chiếc Opel đã ngừng hẳn, thiếu tá Patrick bước đến phía bên ghế tướng Kreipe ngồi. Vẫn giơ tay chào theo kiểu quốc xã, Patrick nói bằng tiếng Đức: “Xin vui lòng cho xem chứng minh thư và giấy đi đường”. Rất ngạc nhiên, Kreipe nhìn thẳng vào mặt Patrick rồi sẵng giọng: “Tôi không có”. Patrick nhún vai nói tiếp: “Vậy hãy nói mật khẩu”.

Lúc này, tướng Kreipe nghĩ rằng đây chỉ là trò đùa tinh quái của mấy gã bạn vẫn thường chơi bài với ông ta vì hồi nãy, họ rủ Kreipe ở lại nhưng ông ta từ chối, và 2 tên lính SS có lẽ đã được lệnh tìm cách để ông ta quay lại sở chỉ huy. Mở cửa xe bước ra, Kreipe nhìn Patrick, bĩu môi: “Đùa thế là đủ rồi! Chả lẽ cậu không biết tôi là tướng của cậu à?”.

Câu nói gián tiếp khẳng định ông ta chính là Kreipe, và khi ông ta chưa dứt lời thì Patrick đã áp sát, bẻ quặt tay ông ta ra sau lưng trong lúc Stanley và 6 du kích xử lý tài xế, thư ký cùng 2 cảnh vệ một cách êm thấm. Ghé sát tai Kreipe, thiếu tá Patrick thì thào: “Chúng tôi là biệt kích Anh. Từ giờ phút này ông là tù binh chiến tranh của Chính phủ Anh Quốc”.

Bị trói và bị bịt miệng, tướng Kreipe bị Stanley cùng 5 du kích giải về căn cứ kháng chiến Kadtamonitza, còn Patrick và Tyrakis lái chiếc Opel đến bờ biển phía bắc nhằm đánh lạc hướng lính Đức rằng họ đã tẩu thoát bằng đường biển.

Để khẳng định việc bắt cóc tướng Kreipe được thực hiện bởi người Anh, dân Crete không liên quan gì, Patrick bỏ lại trong xe 1 chiếc giày cao cổ của biệt kích Anh, 1 gói thuốc lá Anh Quốc, 1 cuốn tiểu thuyết của nữ văn sĩ Agatha Christie cùng 1 tờ giấy với hàng chữ đậm tính hài hước của xứ sở sương mù: “Xe rất đẹp. Tiếc rằng chúng tôi phải bỏ nó lại”.

Cuối cùng, sau 17 ngày chạy trốn cuộc truy lùng của quân Đức trên đảo Crete, vào 23 giờ ngày 14-5-1944, nhóm biệt kích được một tàu cao tốc của Hải quân Anh đón tại bờ biển Peristeres, phía nam đảo Crete rồi đưa về Mersa Matruh, Ai Cập. Tiếp theo, tướng Kreipe lên đường vào trại giam ở Canada. Người thay thế Kreipe trên đảo Crete là tướng Helmut Friebe. Chỉ trong 15 ngày, Helmut Friebe đã ra lệnh hành quyết hơn 900 người dân để trả thù cho vụ bắt cóc.

Thế chiến 2 kết thúc, năm 1947 phía Đồng minh phóng thích Kreipe. Năm 1969, khi gặp lại Patrick tại Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức, Krepe nói: “Chỉ tiếc là lúc ở Ai Cập, tôi không được bắt tay ngài…”.

Vũ Cao (theo History)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.