Việt Nam – Nhật Bản: Cùng kiến tạo những giá trị phát triển bền vững

Trải qua hơn nửa thế kỷ kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973, Việt Nam và Nhật Bản đã xây dựng được nền tảng hợp tác ngày càng vững chắc, mở rộng cả về quy mô lẫn chiều sâu. Đặc biệt, dấu mốc nâng quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới vào năm 2023 đánh dấu bước phát triển quan trọng.

Nhận lời mời của Nhà nước Nhật Bản, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng phu nhân và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm chính thức Nhật Bản từ ngày 8 - 11/11/2026.

Đây là chuyến thăm Nhật Bản đầu tiên của đồng chí Tô Lâm trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, thể hiện sự coi trọng của Việt Nam trong quan hệ với Nhật Bản. Diễn ra trong bối cảnh hai nước bước vào giai đoạn phát triển với những yêu cầu và ưu tiên mới, chuyến thăm là dịp để lãnh đạo cấp cao hai nước củng cố tin cậy chính trị, trao đổi những định hướng hợp tác dài hạn, nhất là trong các lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.

Nền tảng vững chắc từ chính trị, kinh tế và giao lưu nhân dân

Việt Nam và Nhật Bản thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973. Từ đó tới nay, hai nước đã xây dựng được nền tảng hợp tác ngày càng vững chắc, mở rộng cả về quy mô lẫn chiều sâu. Dấu mốc nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới vào năm 2023 đánh dấu bước phát triển quan trọng, mở ra khuôn khổ hợp tác rộng lớn hơn giữa hai nước.

flag.jpg
Việt Nam và Nhật Bản nâng quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vì hòa bình và thịnh vượng tại châu Á và trên thế giới vào năm 2023. Ảnh: HNM

Nền tảng cho sự phát triển đó là tin cậy chính trị được bồi đắp qua các thế hệ lãnh đạo, thông qua hoạt động trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao thường xuyên trên các kênh Đảng, Nhà nước, Quốc hội và tại những diễn đàn khu vực, quốc tế. Quan hệ song phương đồng thời được vun đắp bởi sự đồng hành lâu dài của cộng đồng doanh nghiệp cùng những kết nối ngày càng gần gũi giữa nhân dân hai nước.

Như Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Phạm Quang Hiệu nhấn mạnh, đây là nền tảng rất đáng quý, tạo điều kiện để hai quốc gia tiếp tục mở rộng hợp tác, cùng tìm kiếm những cơ hội phát triển trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến chuyển.

Trong tổng thể quan hệ song phương, hợp tác kinh tế tiếp tục giữ vai trò trụ cột, với sự gắn kết chặt chẽ giữa thương mại, đầu tư và hỗ trợ phát triển. Kim ngạch thương mại Việt Nam – Nhật Bản năm 2025 đạt khoảng 52 tỷ USD, gần gấp đôi mức 27,4 tỷ USD của năm 2014. Trong 9 tháng đầu năm 2026, thương mại hai chiều đạt 43,71 tỷ USD, tăng khoảng 15,34% so với cùng kỳ năm trước. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Nhật Bản ngày càng đa dạng, từ dệt may, gỗ và sản phẩm gỗ đến máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, phương tiện vận tải và phụ tùng.

Nhật Bản cũng duy trì vị thế là một trong những nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam. Lũy kế đến ngày 30/9/2026, nước này có khoảng 5.872 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký hơn 81 tỷ USD, đứng thứ ba trong số 154 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Những kết quả này cho thấy mức độ gắn kết giữa hai nền kinh tế, đồng thời tạo cơ sở để mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao.

viet-nam-nhat-ban.jpg
Tuyến metro số 1 Bến Thành-Suối Tiên (Thành phố Hồ Chí Minh) sử dụng chủ yếu vốn vay ODA từ Nhật Bản, chính thức vận hành từ cuối năm 2024. Ảnh: Quốc Khánh/TTXVN

Bên cạnh thương mại và đầu tư, Nhật Bản là nước tài trợ viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Việt Nam, góp phần quan trọng vào phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện điều kiện xã hội và ứng phó biến đổi khí hậu. Hợp tác y tế thông qua các khoản vay ODA, viện trợ không hoàn lại, cung cấp trang thiết bị và đào tạo nhân lực cũng hỗ trợ nâng cao năng lực của nhiều cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó có các bệnh viện Bạch Mai và Chợ Rẫy.

Quan hệ hợp tác tiếp tục được mở rộng trong nông nghiệp, lao động và liên kết địa phương. Hai bên đã nhất trí triển khai giai đoạn ba của Tầm nhìn trung và dài hạn trong hợp tác nông nghiệp Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn 2025–2030. Trong 9 tháng đầu năm 2026, gần 41.000 lao động Việt Nam sang Nhật Bản làm việc, chiếm khoảng 39,8% tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Đáng chú ý, các địa phương hai nước đã ký kết hơn 110 văn bản hợp tác, góp phần thúc đẩy kết nối kinh tế, văn hóa và giao lưu nhân dân. Diễn đàn hợp tác địa phương Việt Nam – Nhật Bản được tổ chức lần thứ nhất tại Quảng Ninh vào tháng 11/2025 và lần thứ hai tại Huế vào tháng 9/2026, mở thêm kênh trao đổi, kết nối giữa các địa phương và doanh nghiệp.

Cùng với đó, giao lưu du lịch và cộng đồng người Việt Nam tại Nhật Bản tiếp tục góp phần làm sâu sắc sự gắn bó giữa hai quốc gia. Năm 2025, Việt Nam đón hơn 810.000 lượt khách Nhật Bản, trong khi khoảng 680.000 lượt người Việt Nam đến Nhật Bản. Cộng đồng khoảng 700.000 người Việt Nam đang cư trú tại Nhật Bản, đứng thứ hai trong các cộng đồng người nước ngoài tại đây, vừa đóng góp cho đời sống kinh tế, xã hội sở tại, vừa là cầu nối thúc đẩy sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Đồng hành trong những ưu tiên phát triển mới

Nếu thương mại, đầu tư và giao lưu nhân dân tạo nên nền tảng hợp tác bền chặt, thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao đang mở ra không gian phát triển mới cho quan hệ Việt Nam – Nhật Bản.

Điểm gặp gỡ quan trọng là cả hai nước đều coi những lĩnh vực này có ý nghĩa quyết định đối với năng lực cạnh tranh và triển vọng phát triển dài hạn. Từ năm 2025, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nhân lực chất lượng cao đã được xác định là trụ cột hợp tác mới, phản ánh sự chuyển dịch từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng và hiệu quả liên kết kinh tế.

Trên tinh thần đó, hai bên đã thống nhất ưu tiên hợp tác về trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ bán dẫn, công nghệ vũ trụ, công nghệ lượng tử, chuyển đổi số, công nghệ thông tin và truyền thông, an ninh kinh tế, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu chung và đào tạo nhân lực chất lượng cao. Việc phát huy thế mạnh về công nghệ, vốn, quản trị và kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản, kết hợp với tiềm năng thị trường, nguồn nhân lực và nhu cầu chuyển đổi của Việt Nam, có thể tạo ra những giá trị bổ trợ thiết thực, giúp doanh nghiệp hai nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.

phat-trien-ai-viet-nam.jpg
Cobot (robot hợp tác) được trưng bày tại Triển lãm Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam-Nhật Bản tháng 8/2025. Ảnh: Trần Việt/TTXVN

Chuyển đổi xanh cũng là một hướng hợp tác giàu tiềm năng, gắn với mục tiêu phát triển bền vững của cả hai quốc gia. Việt Nam và Nhật Bản đã thống nhất danh mục 15 dự án ưu tiên trong lĩnh vực năng lượng xanh, với tổng vốn khoảng 20 tỷ USD, trong đó một số dự án về mạng lưới truyền tải điện và điện sinh khối đã được triển khai. Đây là cơ sở để hai bên tiếp tục thúc đẩy hợp tác về năng lượng, công nghệ sạch và phát triển hạ tầng, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và nâng cao khả năng thích ứng trước những thách thức toàn cầu.

Theo Đại sứ Phạm Quang Hiệu, thông điệp xuyên suốt của chuyến thăm lần này là cùng định vị và xác lập khuôn khổ hợp tác ở tầm cao mới, mở ra không gian phát triển trên từng lĩnh vực chiến lược với tầm nhìn dài hạn, cùng tạo ra giá trị để người dân được thụ hưởng những thành quả hợp tác. Điều đó cũng đặt ra yêu cầu chuyển hóa những tiềm năng và cam kết thành các chương trình, dự án cụ thể, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp và người dân hai nước.

Trên nền tảng hơn 50 năm hữu nghị và hợp tác, chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm được kỳ vọng sẽ tạo thêm xung lực đưa quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện Việt Nam – Nhật Bản bước vào giai đoạn phát triển mới. Với sự tương đồng về những ưu tiên chiến lược và quyết tâm làm sâu sắc quan hệ song phương, hai nước có nhiều điều kiện để cùng kiến tạo những giá trị hợp tác bền vững, đóng góp cho sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới.

Kim Khánh

Các tin khác

Kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên

Kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc hội Việt Nam thông qua bản Hiến pháp đầu tiên

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, 80 năm trước, Quốc hội khóa I đã kết tinh ý chí, trí tuệ và khát vọng của Nhân dân trong bản Hiến pháp đầu tiên. Trách nhiệm của thế hệ hôm nay là tiếp tục phát huy những di sản ấy bằng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa liêm chính, có năng lực hành động, kiến tạo phát triển và chịu trách nhiệm trước Nhân dân, bằng những quyết sách bảo vệ lợi ích quốc gia và mở rộng cơ hội phát triển cho các thế hệ mai sau.

Đại tướng Lương Tam Quang dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại Hưng Yên

Đại tướng Lương Tam Quang dự Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc tại Hưng Yên

 Tinh thần của Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ tiếp tục lan tỏa trong mỗi gia đình, mỗi thôn, tổ dân phố, để mỗi gia đình thực sự là một mái ấm văn hóa, mỗi khu dân cư là một cộng đồng đoàn kết, an toàn, nghĩa tình; mỗi người dân đều có ý thức và trách nhiệm đóng góp xây dựng quê hương, đất nước.

Tạo cơ sở pháp lý bảo đảm an ninh quốc gia

Tạo cơ sở pháp lý bảo đảm an ninh quốc gia

Đại biểu cho rằng, Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia là dự án luật rất quan trọng nhằm bảo vệ các công trình thiết yếu, bảo đảm an ninh quốc gia, đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý, khai thác và phát triển các công trình trong kỷ nguyên mới.

Phát huy sức mạnh tổng hợp phòng, chống ma túy và tội phạm

Phát huy sức mạnh tổng hợp phòng, chống ma túy và tội phạm

Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết, mục tiêu của chương trình là phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn xã hội trong phòng, chống ma túy và tội phạm. Lấy người dân làm trung tâm, địa bàn cấp xã là nền tảng, ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư trang thiết bị, thực hiện đồng bộ giải pháp nâng cao hiệu quả trong phòng, chống ma túy và tội phạm.

Nâng cao chất lượng phối hợp xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về công tác dân tộc

Nâng cao chất lượng phối hợp xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về công tác dân tộc

Lễ ký kết các quy chế phối hợp giữa các cơ quan giai đoạn 2026-2031 có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo cơ chế, động lực mới phát huy vai trò, thế mạnh công tác của từng cơ quan; đồng thời tăng cường gắn kết hoạt động giữa các cơ quan trong xây dựng pháp luật, giám sát, thẩm tra và kiến nghị hoàn thiện chính sách quan trọng có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, biên giới, hải đảo.