Vị Xuyên có Tú Xương dở dở lại ương ương

Chừng hơn hai mươi năm trước, lúc mới chân ướt chân ráo ra Hà Nội, có đồng nghiệp cắc cớ: “Đố Q ở Thủ đô một năm có mấy mùa?”.

Tréo ngoe chưa?

Thế mà cũng hỏi. Bèn trả lời. Trật lấc. Thật ra, có đến 5 mùa. Có thêm cả… mùa chạy giải thưởng, kết nạp hội. Bạn của y, tạm gọi nhà văn A, vốn nổi tiếng trong lãnh vực viết truyện thiếu nhi, uy tín sáng láng nên được mời vào hội đồng chấm giải chuyên ngành. Ban đầu, anh hào hứng vì thỉnh thoảng được mời ra thủ đô họp bàn, bỏ phiếu chung khảo…

Cuối cùng, anh tự nguyện xin rút lui. Hỏi, tại sao? Anh cười mà rằng, đại khái do không thể chịu nổi áp lực phải nhận quà cáp, mời mọc bia bọt của nhiều đồng nghiệp, bởi họ cần ở anh lá phiếu bình chọn. Ngồi cái ghế có quyền “ban phát” nọ kia, lại được nhiều người săn đón, điếu đóm, cầu cạnh nhưng anh A vẫn rút lui, há chẳng phải người có tư cách đó sao?

Mà, thật lạ, từ nhiều năm nay, hễ khi công bố kết quả giải thưởng văn chương, phong tặng danh hiệu nghệ sĩ, nhà giáo nhân dân, phong chức danh giáo sư, phó giáo sư v.v…. lập tức lại ầm ĩ dư luận không đồng thuận. Gần đây nhất, báo chí lại “dậy sóng” với việc phong danh hiệu sĩ.

Có hai điều lạ: một là, không công khai số phiếu, không công khai danh sách Hội đồng cấp nhà nước xét duyệt hồ sơ nghệ sĩ; hai là, theo quy định thì nghệ sĩ phải làm đơn xin phong tặng danh hiệu! Đã “xin” thì mối quan hệ qua lại thuộc cơ chế “xin - cho”, chứ nào còn phải tặng, phong tặng nhằm tôn vinh tài năng của người nghệ sĩ?

Ông Nghè, ông Thám vô mây khói
Đứng lại đời sau một Tú tài

Sử sách còn ghi rành rành, cứ tưởng đùa, có những người dù không đậu Trạng nguyên, nhưng do có “công trạng đặc biệt” nên cũng được dân phong là “trạng”. Trạng dân phong có sức sống lâu bền, thậm chí còn hơn cả trạng do nhà nước phong.

Bởi vì rằng, một khi những gì đã thuộc về dân, dân chấp nhận, dân tôn vinh thì sức sống ấy có thể vượt qua bụi mờ thời gian. Vấn đề đặt ra ở đây không phải đã thi đậu, đã học hàm, học vị gì, mà họ đã làm được cái gì?

Về các ông trạng do dân phong tặng, có thể ghi nhận là một chuyên đề lý thú trong Folklore học Việt Nam, chắc chắn sẽ có các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đi sâu tìm hiểu và lý giải vấn đề này.

Trước mắt, có thể kể đến: Trạng Ăn (Lê Như Hổ), Trạng Quét (Lê Quát), Trạng Gióng (Đặng Công Chất), Trạng Bùng (Phùng Khắc Khoan), Trạng Vật (Võ Phong), Trạng Cờ (Vũ Huyên), Trạng Quỳnh (Nguyễn Quỳnh), Trạng Lợn (Dương Chung Nhi), Trạng Tả Ao (Vũ Đức Huyền), Trạng Ngộ (Nguyễn Xiển, còn gọi là Xiển Bột) Trạng Ngọt (Hứa Tam Tỉnh)... và một số trạng không rõ tên như Trạng Gạt, Trạng Độn, Trạng Khiếu...

Có một số ông trạng, dân gian không gọi tên thật mà kính trọng gọi bằng cái tên khác - với nhiều lý do như trạng có sở trường về chuyên môn đó; hoặc có công truyền nghề cho dân; hoặc gắn liền với địa danh sinh ra Trạng.

Chẳng hạn, Trạng Trình (Nguyễn Bỉnh Khiêm) - do được vua nhà Mạc phong tước Trình Tuyền Hầu, ngụ ý đề cao ông có công khơi nguồn Lý học như anh em Trình Di và Trình Hạo ở Trung Quốc...; rồi ông lại được thăng tước Trình Quốc Công; Trạng Me (Nguyễn Giản Thanh) - do sinh ở làng Hương Mạc, tên nôm là Me, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc; 

Trạng Lường (Lương Thế Vinh) - do giỏi về tính toán, có để lại đời sau bộ sách Đại thành toán pháp; Trạng Chiếu (Phạm Đôn Lễ) - do có công dạy dân nghề làm chiếu; Trạng Bịu (Nguyễn Đăng Đạo) - do sinh ở làng Hoài Bảo, tên nôm là Bịu, huyện Tiên Du, Hà Bắc...

Có Trạng do đi sứ có tài biện bác, ứng đối thông minh nên được vua Trung Quốc phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên” như trường hợp Mạc Đĩnh Chi, Phùng Khắc Khoan - dù ông Phùng không đậu Trạng, chỉ đậu Hoàng giáp...

Dù không đậu Trạng nguyên, chỉ mới Tú tài, trong số đó, còn có Tú Xương. Đời sau đã ca ngợi một thi sĩ tài hoa bậc nhất đất Nam Định, dù rằng thuở sinh thời, nhiều lần lều chõng đều trợt vỏ chuối. Âu cũng là… cái may cho nền văn học nước nhà. Nếu thí sinh Tú Xương thi đâu đậu đó thì sức mấy: “Kìa ai chín suối Xương không nát/ Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”.

Tú tài mà làm thơ cỡ như Tú Xương kể ra hiếm lắm. Một khi đọc kỹ thơ của anh chàng tự trào: “Vị Xuyên có Tú Xương/ Dở dở lại ương ương/ Cao lâu thường ăn quịt/ Thổ đĩ lại chơi lường” ắt nhận ra rằng đó là… một nhà báo chuyên nghiệp. Có điều, ông viết phóng sự bằng… thơ trào phúng! Do tài năng tuyệt vời, một khi thời sự đi qua nhưng các câu thơ ấy vẫn “đứng lại”, vẫn tạo thành một bức tranh chính trị-xã hội của một thời quá vãng.

Trong cõi trường văn trận bút trùng trùng điệp văn tài chữ nghĩa, vàng thau lẫn lộn ấy; trong chốn quan trường nhộn nhạo mua quan bán chức lẫn có thực tài ấy, điều gì sẽ khiến đời sau còn nhớ đến họ?

Về thơ trào phúng, đồ đệ của Tú Xương nhiều lắm, thí dụ Tú Mỡ. Khi ta gọi Tú Mỡ, đó chỉ là bút danh của Hồ Trọng Hiếu; nhưng gọi Tú Xương thì nó vừa bút danh, vừa phản ánh cả học vị của Trần Tế Xương. Thế thì sao lại không lẩn thẩn tìm hiểu một vài nhà thơ đã có bút danh gắn với học vị? Âu cũng là một cách tìm hiểu về khoa cử của ngày xưa. Lý thú quá đi chứ.

Xưa nay, các nhà cầm quyền muốn tìm nhân tài ra giúp nước, thông thường phải thông qua con đường khoa cử. Do sử sách không ghi chép hoặc tài liệu đã thất lạc, tiêu hủy trong binh đao nên khoa cử Việt Nam từ đời nhà Đinh, nhà Lê trở về trước rất khó khảo cứu.

Ngay cả trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú (1782-1840) cũng chỉ viết: “Khoa cử bấy giờ còn thiếu, triều đình dùng người không câu nệ, không theo phép tắc cụ thể nào, sự cân nhắc còn rộng rãi, mà thực ra nội quy thi cử cũng chưa được tường. Điều này cũng dễ hiểu vì bắt đầu xây dựng, sự thể cũng phải như vậy”. Trải qua các triều đại, qua từng khoa thi có khác, nhưng đại thể như sau:

Từ năm 1396, vua Trần Thuận Tông quy định lại phép thi cử đặt ra thi Hương để chọn lấy cử nhân: cứ năm trước thi Hương thì năm sau thi Hội, ai đậu thì được tiếp tục thi Đình, do chính nhà vua ra đề để phân cấp bậc, thứ tự cao thấp. Thi Hương là do các địa phương tổ chức. Thi Hội là cấp thi Trung ương do triều đình tổ chức.

Thế nhưng trước khi vào thi Hương, các thí sinh phải qua kỳ thi khảo hạch ở địa phương. Năm 1915, nhà văn Ngô Tất Tố đỗ đầu kỳ khảo hạch toàn tỉnh Bắc Ninh nên còn được gọi Đầu xứ Tố. Sau khi khảo hạch, những thí sinh đủ tiêu chuẩn mới được dự thi Hương gọi là Cống sĩ.

Những người chỉ thi đậu qua ba trường (trường nhất, trường nhì, trường ba) hay còn gọi là ba kỳ thi Hương thì được gọi Sinh đồ, nhưng nếu có ông cha làm quan viên tử hoặc quan viên tôn thì được gọi Nho sinh; thi đậu bốn trường gọi là Hương cống, còn gọi Hương tiến.

Đời nhà Nguyễn, những người thi đậu qua ba trường (trường nhất, trường nhì, trường ba) gọi là Tú tài (tương đương Sinh đồ đời Lê); đến trường tư, các Tú tài vào thi, người nào đậu thì xếp hạng Cử nhân (tương đương Hương cống đời Lê), số còn lại đều gọi là Tú tài. Nếu đậu đầu thi Hương được gọi là Giải nguyên, khi đi thi Hội được gọi là Cống sinh.

Đọc sử sách thấy có những người là Tú Đơn, Tú Kép, Tú Mền, Tú Đụp - nghĩa là sao? Tú Kép là những người hai lần thi Hương đều đậu Tú tài - như trường hợp nhà thơ trào phúng Hoàng Thụy Phương, thường gọi Trà, hai lần thi Hương tại trường thi Nam Định, khoa 1897 và 1909 chỉ đậu Tú tài nên người đời gọi là Kép Trà; 

Tú Mềm là những người ba lần thi Hương đều đậu Tú Tài - như trường hợp cụ Nguyễn Tông Khởi, bố của Tam nguyên Yên Đổ, ba lần đậu Tú tài trong các khoa thi năm 1825, 1841 và 1852 nên được gọi là cụ Mềm Khởi; Tú Đụp là những người bốn lần thi Hương thì bốn lần đậu Tú tài.

Nhà thơ trào phúng tài hoa Tú Xương 8 lần lều chõng đi thi nhưng cũng chỉ mỗi một lần đậu tới... Tú tài! Những người chỉ đậu như thế còn được gọi là Tú Đơn để phân biệt với các ông Tú khác.

Trong thi ca trào phúng miền Nam, ở Vĩnh Long có nhà thơ Nhiêu Tâm, do đâu? Để tìm nhân tài, thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) ở Đàng Trong đã mở những khoa thi tuyển gọi là “Xuân thiên quận thí”- chỉ diễn ra một ngày ở các trấn, quận - người thi đậu gọi là Nhiêu học.

Khoa thi này thật ra chỉ tương đương với các kỳ khảo hạch trước khi thi Hương của vua Lê chúa Trịnh. Họ được miễn phu phen tạp dịch để có thời gian đèn sách trước khi dự thi Hương. Ông Đỗ Minh Tâm được gọi là Nhiêu Tâm là vậy.

Nhà thơ Nguyễn Văn Lạc, quê ở Mỹ Tho sao lại gọi Học Lạc? Theo nhà nghiên cứu Trịnh Vân Thanh: “Ông có trí thông minh từ nhỏ, nhờ học giỏi nên ông được tuyển thẳng vào ngạch học sinh, ngạch do triều đình nhà Nguyễn đặt ra, được cấp lương và được học tại trường của quan Đốc học. 

Do đó, người ta gọi ông là "học sinh Lạc", dần dần bỏ mất chữ "sinh", còn lại hai chữ "Học Lạc” (Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển, in năm 1965 tại Sài Gòn, tr.501).

Đạo học ngày nay, có gì khác trước?

Không dám lạm bàn, chỉ xin nêu hai ý kiến nhận xét chung về lối học ngày trước, nhà Hán học uyên thâm Phan Kế Bính có ý kiến: “Cách học của ta chẳng nói thì ai cũng biết là trái phép sư phạm.

Tự lúc nhỏ cho đến lúc lớn, chẳng qua chỉ học trong hai khoa luân lý với văn chương. Mà luân lý lại theo nghĩa hẹp hòi, bó mình vào trong lễ phép quá, làm cho người ta không thể theo được, văn chương thì cũng phù phiếm, người nước Nam mà bàn việc Nguyên, Minh, chuyện Đường Tống, ngồi xó nhà mà tả những cảnh Hoàng Hà, Thái Sơn, thực là “ngồi cầu Đơ mà nói quán Mọc”... 

Ngoài khoa văn chương luân lý thì không còn khoa gì nữa, thể thao chẳng có, kỹ nghệ cũng không. Ai học rộng ra đến thiên văn, địa lý, y khoa lý số một chút đã cho là “vạn sự xuất ư nho”, mà rút lại thì chẳng nghề gì là học cho đến nơi đến chốn.

Học thuật của ta hủ bại như thế, trách nào mà trí thức của ta chẳng mờ mịt, văn minh của ta chẳng kém xa các nước” (Việt Nam phong tục, NXB TP HCM tái bản 1990 - tr. 158- 159).

Nhà giáo Phạm Thế Ngũ cũng có ý kiến tương tự: “Về kết quả đào tạo thì chương trình giáo dục ấy chỉ tạo nên một người trí thức tinh luyện về đạo đức, văn chương, lịch sử, triết lý, trong phạm vi hiểu biết của thế giới Trung Hoa xưa. Nó thiếu hẳn về phần chuyên nghệ. Nhưng cổ nhân có câu “Sĩ khả bách vi” hay “Vạn sự xuất ư nho”.

Một khi thi đậu ra làm quan trị nước rồi mới tìm coi thêm những sách về pháp luật, binh bị, toán số, về chế độ, phong tục, lịch sử, địa dư nước mình. Đó là cái học trực tiếp thực hành coi làm phần phụ sau cái nòng cốt về văn hóa và lý thuyết ở trên kia” (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên - NXB Quốc học tùng thư in năm 1961- tr.79).

Ý kiến về “cái học trực tiếp thực hành” rất đáng suy nghĩ, bởi lẽ cái học ngày nay có hướng theo xu thế đó không?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.