Trường đào tạo tình báo quân sự Mỹ ở Minnesota

Trong suốt thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ hai (ĐCTGII), cuộc chiến tại mặt trận Thái Bình Dương đòi hỏi rất nhiều công sức của các nhà ngôn ngữ học Nhật Bản cho các mục đích dịch thuật, phiên dịch và chiến đấu.

Người Mỹ đã tuyển mộ binh lính Nisei (người Mỹ gốc Nhật thế hệ thứ 2) để hình thành nên Trường ngôn ngữ dịch vụ tình báo quân sự (MISLS), cũng là cơ sở đầu tiên ở Presidio (San Francisco) và sau đó là tại 2 địa điểm Camp Savage và Fort Snelling (cùng ở tiểu bang Minnesota). MISLS đặc biệt quan trọng khi đã “đẻ” ra nhiều nhà ngôn ngữ học có chuyên môn cao, những người này rất hữu dụng trong ĐCTGII và sau đó là chiếm đóng Nhật Bản.

Mục tiêu thiết yếu

Vào cái đêm nổ ra ĐCTGII, bầu không khí cực kỳ căng thẳng khi các cuộc đàm phán ngoại giao giữa Nhật Bản và Mỹ dần xấu đi. Khi nguy cơ xảy ra chiến tranh với Nhật Bản ngày càng gia tăng trong suốt mùa hè năm 1941, giới chức trong Bộ chiến tranh Mỹ bỗng ngộ ra những khiếm khuyết đáng kể trong các khả năng tình báo của nước mình khi so sánh tương quan với Nhật Bản. Có rất ít quân nhân người da trắng thành thạo tiếng Nhật, cũng như không có đủ thời giờ để đào tạo ra một đội ngũ dịch giả bổ sung chiến tranh đang tới rất sát.

Chưa hết khó khăn khi mà thậm chí ngay trong số lượng nhỏ những người Mỹ gốc Nhật trong quân đội thì vẫn không có mấy người rành rẽ các kỹ năng biên phiên dịch và đàm phán bằng tiếng Nhật, từ đó chứng minh một sự thật đội ngũ này cực kỳ khan hiếm. 

Trong cuộc khảo sát ban đầu với sự tham gia của 3.700 Nisei, các quan chức MISLS chắc mẩm chỉ có 3% những người hiện diện là những nhà ngôn ngữ học thật sự. Sau một khóa huấn luyện cẩn thận, giới chức MISLS đã xem xét thêm 4% khác và cho là quá thành thạo tiếng Nhật, và tìm thấy thêm 3% nữa là có thể hữu dụng. 

Phần đông các Nisei nhìn giống Mỹ hơn giống Nhật, và ít lưu loát tiếng Nhật hơn từng nghĩ. Đến đây giới chức quân sự Mỹ quả quyết cần phải có một trường đào tạo đặc biệt được lập ra để biến đổi các Nisei thành những nhà ngôn ngữ Nhật có năng lực thực sự.

Các quân nhân tại Trường ngôn ngữ dịch vụ tình báo quân sự (MISLS) thuộc lớp học C-1 vào năm 1944 ở Camp Savage (tiểu bang Minnesota, Mỹ). Ảnh nguồn: Densho, the Akira Nakamura Family Collection.
Các quân nhân tại Trường ngôn ngữ dịch vụ tình báo quân sự (MISLS) thuộc lớp học C-1 vào năm 1944 ở Camp Savage (tiểu bang Minnesota, Mỹ). Ảnh nguồn: Densho, the Akira Nakamura Family Collection.

Nhận thức tầm quan trọng của khám phá/hoặc phát triển ra đội ngũ biên phiên dịch tiếng Nhật chất lượng cao, một nhóm các sĩ quan quân đội đã thúc đẩy công tác xây dựng một đơn vị tình báo nhằm đối ứng cuộc chiến tranh với Nhật Bản. Trong số các viên chức quân sự có thể kể đến là Thiếu tá Carlisle C. Dusenbury – nguyên sinh viên tiếng Nhật đang làm nhiệm vụ trong Phòng tình báo; và Trung tá Wallace Moore, thành viên của một gia đình truyền giáo từng phụng sự ở Nhật Bản. 

Đại tá Rufus S. Bratton (nguyên là sinh viên tiếng Nhật và tùy viên quân sự ở Tokyo) giữ chức vụ giám đốc Chi nhánh Viễn Đông thuộc Phòng tình báo, sau đó ông phê chuẩn kế hoạch của Dusenbury và Moore. Phòng công tác và đào tạo (G-3), đơn vị chịu trách nhiệm giám sát MISLS, cũng thực hiện việc hỗ trợ. 

Cuối năm 1941, giới chức Bộ Chiến tranh Mỹ tỏ ra miễn cưỡng chi khoản ngân sách 2.000 USD để khởi động Trường ngôn ngữ tiếng Nhật quân sự (AJLS) đầu tiên dưới sự ủy quyền của Trung tá (sau này là Thiếu tướng) John Weckerling. Sau khi chu cấp ngân sách ít ỏi cho AJLS, giới chức bắt đầu lùng kiếm những ứng viên đủ tiêu chuẩn  để có thể ghi danh tham gia vào khóa đào tạo ngoại ngữ chuyên sâu. 

Các quân nhân Nisei nhập ngũ thông qua Cục tuyển chọn nhằm sàng lọc và đóng quân tại nhiều đơn vị quân sự khác nhau dọc trên bờ biển Thái Bình Dương. Mỗi người lính này được phỏng vấn và kiểm tra kỹ lưỡng trước khi được cho phép gia nhập vào các hàng ngũ quân đội trở thành một trong những đơn vị quân sự được tinh chọn cao nhất. 

Các lớp tiếng Nhật đầu tiên

Ngày 1 tháng 11 năm 1941 (tức chỉ 1 tháng trước khi ĐCTGII bùng nổ), lớp học đầu tiên với 60 học viên tham gia dưới sự giảng dạy của 4 giáo viên Nisei, họ học ngay trong một nhà chứa máy bay nhỏ bị bỏ hoang ở Crissy Field (Presidio, San Francisco). 

Khu nhà chứa máy bay này được chia thành các khu riêng gồm văn phòng, phòng giảng viên, các lớp học và một số doanh trại. Ban đầu người ta sử dụng những cái thùng và hộp màu cam làm bàn, ghế, và một nguồn cung ngắn các loại sách giáo khoa, học viên học trên các tờ giấy được biên soạn sẵn. Trong số 60 học viên có 58 người là Nisei và 2 người lính da trắng là E. David Swift và John Alfred Burden. 

Các giảng viên gồm cả người da trắng và người Nhật, đã đốc thúc các học viên mọi kỹ năng cần thiết để trở thành những nhà ngôn ngữ lành nghề trong một khoảng thời gian ngắn chưa từng có. Bản thân Burden mới sau 5 tháng “học vỡ lòng” từ vựng quân sự tiếng Nhật, anh đã ra nước ngoài cùng với 2 người đồng đội Takashi và Takeo Kubo, cùng 10 người khác của Quân đoàn tình báo phản gián. 

Cuối cùng chỉ có 45 học viên đủ điều kiện tham dự lễ tốt nghiệp vào tháng 5 năm 1942, một phần tư sĩ số học viên của lớp học đã thất bại do sự nghiêm ngặt của chương trình, cùng những yêu cầu khắt khe của một người lính. Cường độ đào tạo tại trường ngôn ngữ cùng tính cấp bách của chiến tranh đã gia tăng áp lực lên cả giảng viên lẫn học viên. Các lớp học thường bắt đầu từ lúc 8 giờ sáng và hoạt động liên tục 10 tiếng mỗi ngày, và nhiều học viên dùi mài đến tận lúc “tắt đèn” 11 giờ đêm. 

Khung cảnh ở MISLS năm 1944, Camp Savage (Minnesota). Ảnh nguồn: Densho, the Akira Nakamura Family Collection.
Khung cảnh ở MISLS năm 1944, Camp Savage (Minnesota). Ảnh nguồn: Densho, the Akira Nakamura Family Collection.

Bất chấp quy định tắt đèn này, một số học viên đã nghĩ ra cách dùng đèn pin chiếu trong chăn (mền) của họ để tiếp tục học. Số khác tiếp tục học bài trong nhà xí (vệ sinh) cũng là nơi duy nhất được chiếu sáng lúc khuya khoắt. 

Truyền thống tắt điện được áp dụng ở cả cơ sở ngôn ngữ thứ hai, và nó trở nên cần thiết khi các sĩ quan ở Camp Savage (Minnesota) đi tuần tra khu vực trường nhằm đề phòng học viên học ngoài giờ sau khi khu vực được tắt đèn. Những học viên thành thạo ngôn ngữ sẽ lại dạy kèm cho những bạn học chưa giỏi, và nhiều người trải qua nhiều giờ dạy và học tiếng Nhật. Sự chuyên cần của các học viên không chỉ thể hiện cho quyết tâm thành công của họ, mà còn ở cả sự khó khăn của chương trình học.

Chương trình giảng dạy

Chương trình căn bản của trường ngôn ngữ bao gồm học đọc, viết, đàm thoại, và có mở rộng sang học luật, xã hội và văn hóa Nhật. Bên cạnh đó, các học viên còn tham gia vào việc học biệt ngữ quân đội Nhật, mật khẩu quân sự cùng các chiến thuật. Thêm vào đó, họ cũng học cách xử lý thành thạo kỹ năng đánh chặn thông tin liên lạc, thẩm vấn và phiên dịch đòi hỏi kiến thức nền tốt về sôrôbun (Hầu Văn) – một loại chữ viết cá nhân có nguồn gốc hình thành từ thời Giang Hộ ở Nhật Bản (1600–1868). 

Các binh sĩ bình thường hoặc các sĩ quan không phận sự trong quân đội Nhật Bản cũng đều dùng Hầu Văn, do đó buộc các nhà ngôn ngữ học phải hiểu biết về loại ngôn ngữ này. Nhằm phân tích các tài liệu thu giữ được, những người lính cần phải đọc được sôsho (thư pháp chữ thảo được sáng tác bởi thư pháp gia người Trung Quốc, Đường Húc) đây là một lối chữ viết rất khó để viết trôi chảy ngay cả với người đã nhiều năm học tiếng Nhật. 

Vào thời điểm lớp tân binh đầu tiên hoàn thành chương trình, đội ngũ đào tạo đã tăng lên thành 8 giảng viên dân sự, họ là những học viên mới tốt nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu cần phải có cơ sở vật chất lớn hơn, cũng như việc loại trừ hàng loạt người Mỹ gốc Nhật khỏi bờ Tây mà ngôi trường tình báo quân sự thứ 4 đã dọn tới Camp Savage (Minnesota), nơi đây nó thuộc thẩm quyền trực tiếp của Bộ Chiến tranh Mỹ. 

Lớp học chính thức đầu tiên của MISLS bắt đầu ở Minnesota vào ngày 1 tháng 6 năm 1942 với 200 học viên và 18 giảng viên tham gia đào tạo trong các cabin vốn là những ngôi nhà dành cho những người già bần cùng. Đại tá Kai E. Rasmussen được chỉ định làm sĩ quan chỉ huy của trường.

Cống hiến của các nhà ngôn ngữ MISLS

Mối quan hệ huynh đệ gắn bó thân thiết trong số những người lính học tại trường ngôn ngữ và nó vẫn vẹn nguyên như thế ngay cả khi họ rời trường đến chiến đấu ở những mặt trận khác nhau. Khi dịch vụ của họ trong việc truy tố các bằng chứng chiến tranh chống lại người Nhật được thừa nhận trong quân đội Mỹ, thì các chỉ huy chiến trường bắt đầu đề nghị có thêm các nhà ngôn ngữ MISLS bổ sung. Mong muốn các thành viên MISLS không chỉ đến từ mọi nhánh trong các lực lượng Mỹ, mà còn đến từ phe Đồng Minh hoạt động trên khắp Thái Bình Dương và Đông Nam Á. 

Nhằm đáp ứng nhu cầu gia tăng các nhà ngôn ngữ học, MISLS đã chiêu mộ hàng trăm tình nguyện viên đến từ các trại tập trung ngay trong lãnh thổ Mỹ và cả ở Hawaii. Ngoài ra, 200 thành viên của Tiểu đoàn bộ binh 100 đã tham gia đào tạo ở Fort McCoy (tiểu bang Wisconsin) nhằm gia nhập vào đội ngũ MISLS ngay trong tháng 12 năm 1942.

Đến năm 1943, các học viên MISLS cũng được chiêu mộ bởi Đội chiến đấu trung đoàn 442 đồn trú tại Camp Shelby (Mississippi). Tháng 8 năm 1944, trường ngôn ngữ ở Camp Savage đã trở nên đông đúc và buộc phải tái chuyển đến những cơ sở lớn hơn ở Fort Snelling (Minnesota). So với các đối tượng học viên trước đó, lớp học viên mới này đều trẻ hơn với độ tuổi trung bình là 23. 

Nhiều người trong số đội ngũ Nisei là các lính quân dịch hoặc tình nguyện viên đến từ các trại giam, hay đến từ “các khu vực tự do” bên ngoài những trại này. MISLS cũng mở thêm một lớp tiếng Trung và 1 lớp tiếng Hàn vào năm 1945. Sở dĩ nhu cầu nhân sự MISLS tăng cao là do sau khi Đức bị đánh bại ở Châu Âu vào tháng 5 năm 1945, khi đó cuộc chiến chống Nhật trở thành trọng tâm chính của các nỗ lực quân sự Hoa Kỳ. 

Khi Nhật Bản đầu hàng vào ngày 15 tháng 8 năm 1945, giới chức quân đội Mỹ đã sửa đổi chương trình dạy học tại trường ngôn ngữ và nó chú trọng vào các vấn đề dân sự hơn học về quân sự và xoay quay các môn học mà các nhà ngôn ngữ cần khi người Mỹ chiếm đóng Nhật Bản. Lúc đỉnh cao của đầu năm 1946, MISLS có 160 giảng viên / hướng đạo viên và 3.000 học viên học tại hơn 125 phòng học khác nhau. 

Lễ khai giảng lần thứ 21 và cũng lễ phát bằng lần cuối cùng tại Fort Snelling đã diễn ra vào tháng 6 năm 1946 với sự tham dự của 307 học viên, nâng tổng số lượng học viên qua đào tạo tại MISLS là hơn 6.000 người. Khởi đầu là một chương trình đào tạo ngôn ngữ tình báo quân sự với ngân sách ít ỏi chỉ 2000 USD, đến cuối cùng chương trình này đã thiết lập nên Viện Ngôn ngữ của Bộ Quốc phòng Mỹ, nơi tập trung hàng ngàn nhà ngôn ngữ học phục vụ cho các lợi ích của Mỹ trên khắp thế giới.

Bảo tồn di sản

Hiện tại đang có nhiều nỗ lực được tiến hành nhằm bảo tồn các cấu trúc còn lại của trường ngôn ngữ và tưởng niệm những nỗ lực của nhiều quân nhân ở MIS LS. Năm 1991, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập trường ngôn ngữ, tòa nhà 640 (địa điểm từng là nơi tọa lạc MISLS) đã thu hút sự chú ý của Hội Sử học Mỹ Nhật quốc gia (NJAHS). Kể từ thời điểm đó, NJAHS đã hỗ trợ cho công tác trùng tu các tòa nhà và lịch sử của người Mỹ gốc Nhật tại Presidio (San Francisco) bằng cách nâng cấp nó thành Trung tâm học thuật dịch vụ tình báo quân sự (MISHLC). 

Tại Minnesota, còn rất ít những gì của di tích Camp Savage ngoại trừ một tòa nhà hiện đang được sử dụng bởi Sở giao thông đường cao tốc Minnesota.

Thửa đất đối diện tòa nhà ở Camp Savage hiện đã trao trả lại cho chính quyền thành phố, và giờ đây được dùng làm cơ sở đào tạo cho đơn vị K-19 thuộc Sở cảnh sát Savage. Một cột mốc lịch sử được dựng lên vào năm 1993 để đánh dấu di tích cũ. Hiện tại, Fort Snelling đã được cải tạo thành một công viên lịch sử mặc dù bằng chứng của MISLS hiện vẫn chưa rõ ràng.

Văn Chương (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.