Chân dung quyền lực triều Nguyễn (Kỳ I):

Trương Đăng Quế: Tể tướng không danh hiệu

Sự vận hành của thể chế quân chủ tạo ra ý niệm về quyền lực tuyệt đối của nhà vua. Các ý tưởng thần thánh hóa vị thiên tử tạo ra biểu tượng về quyền lực tuyệt đối. Luật pháp và sự vận hành của hệ thống hành chính là cơ sở thiết chế của quyền lực tuyệt đối.

Đương nhiên, quyền lực của vua là thật. Chỉ có điều, đôi khi chúng ta quá chú ý tới sự tuyệt đối này mà quên mất rằng vua có người giúp việc, soạn chiếu chỉ, cung cấp thông tin, cố vấn, đưa tin... 

Những người có được đôi tai của vua có khả năng can thiệp vào sự vận hành của quyền lực tuyệt đối đó. Nhiều người có tầm ảnh hưởng lớn tới chính sách, nhiều hơn những gì chúng ta vẫn hình dung, có điều tên tuổi của họ đứng sau người ra quyết định cuối cùng. Sử chính thống vương triều dĩ nhiên không bao giờ thú nhận điều đó, đơn giản vì sử này do chính các viên đại thần giám sát biên soạn.

Chân dung Trương Đăng Quế (1793-1865).
Chân dung Trương Đăng Quế (1793-1865).

Trong các số tiếp theo, chúng tôi xin giới thiệu một số chân dung quyền lực ở Việt Nam trong giai đoạn 1802-1870 để thấy được cấu trúc, sự vận hành, quá trình tiến hóa của nền chính trị triều Nguyễn và để thấy được sự thất bại của con, cháu vua Minh Mệnh trong việc kế thừa hệ thống hành chính và chính trị do cha, ông để lại. Sự thất bại này chính là một phần của nguyên nhân nhà nước Việt Nam bất lực trong cuộc đối đầu với phương Tây, mở ra bi kịch thuộc địa thời hiện đại.

Tầm quan trọng của câu chuyện này không phải nhằm đổ lỗi cho Tự Đức, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản... mà để thấy một hệ thống chính trị dù được tổ chức chặt và canh gác kỹ đến đâu cũng sẽ bị vôi hóa theo thời gian. Vì thế, người vận hành hệ thống cần tỉnh táo trong việc kiểm soát quyền lực, đặc biệt là nguy cơ thường trực sinh ra các đại thần. Các cấu trúc do họ bảo trợ xung đột với tính minh bạch, hiệu quả của nhà nước và cuối cùng vô hiệu hóa hệ thống hành chính.

Hãy bắt đầu bức tranh về các chân dung chính trị này bằng viên quan quyền lực nhất ở Việt Nam giai đoạn 1830-1863: Trương Đăng Quế.

Ông khiến các phái viên nước ngoài nể phục và sợ, gọi ông là tể tướng. Dân chúng ở Huế cũng biết điều đó. Quan lại cũng thế. Các tin đồn thậm chí còn cho rằng ông có quan hệ với Quý phi Phạm Thị Hằng (Từ Dụ), sinh ra hoàng tử Hồng Nhậm và rằng ông đã đánh tráo di chiếu của Thiệu Trị, phế con cả là Hồng Bảo, đưa Hồng Nhậm (Tự Đức) lên ngôi...

Tin đồn thời nào cũng có. Điều chúng ta biết chắc là ông làm việc cực kỳ ăn ý với Minh Mệnh, đóng vai trò là quan chức cố vấn chiến lược hàng đầu, nơi mà cuộc cải cách hành chính, thống nhất lãnh thổ, xây dựng hệ thống hành chính cấp tỉnh, vạch chính sách dẹp nổi loạn từ Bắc đến Nam, xác lập địa bạ trên cả nước... đều có bàn tay của ông tham dự. Các chuyến kinh lý với tư cách khâm sai đại thần của ông vào cuối thời Minh Mệnh làm thay đổi diện mạo của nước Việt Nam hình chữ S vừa mới được thống nhất.

Năm 1835, sau khi cuộc nổi dậy thành Phiên An của Lê Văn Khôi bị dẹp tan, Trương Đăng Quế được cử Kinh lược đại thần, chỉnh đạt lại toàn bộ ruộng đất Nam Kỳ, làm lại sổ sách, tổ chức lại hành chính, phòng thủ... “Đến khi Đăng Quế về kinh, vào ra mắt, vua yên ủi hồi lâu, thân rót rượu ban cho; lại thưởng một đôi hình con cá bằng vàng, để tỏ ý là cá nước tương đắc” (Đại Nam Thực Lục). Sau đó ông được thăng Hiệp biện Đại học sĩ, vẫn quản lý Binh bộ, kiêm Cơ mật viện đại thần (phẩm hàm tòng nhất phẩm/1B).

Hãy nghe âm hưởng một bài thơ ông làm khi vâng mệnh đi kinh lược sứ Thanh Hoa, sau khi vừa làm Khâm sai đại thần trở về từ Nam Kỳ:

“Vừa đi phủ dụ Nam Kỳ trở về
Lại đi ra Bắc để tuyên bố ân uy
Hoài bão lớn coi nhẹ ngày cuối năm
Hoàn cảnh thuận lợi, lại gặp trời quang đãng
Cưỡi ngựa đi trạm liền suốt đêm,
Hoa mùa xuân hai bên đường như nghênh đón
Thanh uy giáo hóa của triều đình ban bố rộng
Khắp muôn nơi sẽ có ngày được thanh bình”.

(Tuyển tập thơ văn Trương Đăng Quế, 2018: 167).

Mất 13 năm (1819-1832) để Trương Đăng Quế đi từ một Nho sĩ đậu cử nhân, bổ dụng hành tẩu, biên tu (hàm chánh thất phẩm/7A) lên Thượng thư (bộ trưởng, hàm chánh nhị phẩm/2A) lúc 39 tuổi. Điều này tương đương với một chuyên viên được thăng 10 bậc trong vòng 13 năm để lên bộ trưởng trước 40 tuổi.

Phía sau quan lộ ấn tượng này là gì? Dĩ nhiên là tài năng của một viên chức khéo léo, mềm mỏng và uyên bác. Nhưng thế và thời cũng là nhân tố cần tính đến. 

Sinh ra tại Quảng Ngãi năm 1793, vị quan xuất thân trong một hoàn cảnh đặc biệt. Ông là con thứ ba của một viên tri phủ nhà Tây Sơn. Sử nhà Nguyễn sau này (do ông làm tổng tài) viết rằng cha ông theo Tây Sơn là do bị ép. Quan trọng hơn, vị quan kém Minh Mệnh 2 tuổi này thuộc về một thế hệ Nho sĩ và quan chức mới mà vị vua thứ hai nhà Nguyễn đang cần để phục vụ cho dự án chính trị: nhà nước tập quyền, thống nhất lãnh thổ, hệ thống hành chính, văn hóa và mở rộng ảnh hưởng khu vực.

Tờ chiếu của Vua Minh Mệnh (29-4-1826) thăng Trương Đăng Quế từ Chủ sự ti Thanh lại (Hộ bộ), sung Bạn độc lên Hàn lâm Viện thị độc, tước Quảng Vọng tử, sung Hoàng tử Tán thiện.
Tờ chiếu của Vua Minh Mệnh (29-4-1826) thăng Trương Đăng Quế từ Chủ sự ti Thanh lại (Hộ bộ), sung Bạn độc lên Hàn lâm Viện thị độc, tước Quảng Vọng tử, sung Hoàng tử Tán thiện.

Các mốc quan trọng dọn đường cho sự trỗi dậy của Trương Đăng Quế gắn liền với việc rời khỏi sân khấu chính trị của các nhóm quyền lực cũ. Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, Vũ Trinh và các trí thức Bắc Hà dần mất đi ảnh hưởng vào cuối thời Gia Long. Minh Mệnh sẽ tìm cách hạn chế ảnh hưởng các tướng quân đầy uy quyền của vua cha là Lê Chất và Lê Văn Duyệt bằng cách đưa lên sân khấu chính trị những ngôi sao văn thần là Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, Nguyễn Hữu Thận...

Hoài Đức và Hữu Thận thậm chí còn được phong Hiệp biện đại học sĩ (hàm tòng nhất phẩm/1B) để lấy lại cân bằng với các võ quan cao cấp nhất (chánh nhất phẩm/1A). Không may là Trịnh Hoài Đức mất năm 1825, Phạm Đăng Hưng (cha của bà Từ Dụ, thông gia với Minh Mệnh, bố vợ Thiệu Trị) mất năm 1825 và Nguyễn Hữu Thận mất năm 1831.

Khoảng trống quyền lực do sự ra đi của những người này thúc đẩy Minh Mệnh tìm kiếm các nhân tố mới.

Ông chú ý vào hàng ngũ các tiến sĩ đầu tiên của triều Nguyễn (bắt đầu tuyển từ 1822), mà sau này xuất hiện Phan Thanh Giản, Hà Tông Quyền... Tuy nhiên, so với những nhân vật đến sau này, Trương Đăng Quế có một lợi thế đặc biệt: ông ở bên cạnh ngai vàng.

Từ năm 1820, ông được giao tham gia giảng dạy cho các hoàng tử (trong đó có nhà vua Thiệu Trị tương lai) và sẽ thực hiện sứ mệnh này trong suốt 8 năm. Thành tích của hoàng tử Miên Tông [Thiệu Trị] chắc chắn đã làm hài lòng Minh Mệnh, người vào năm 1828 đưa Đăng Quế sang Văn thư phòng (văn phòng hoàng đế). Ngay lập tức ông được giao quản lý sự vụ tại trung tâm hành chính của vương triều: hoàng cung nhà Nguyễn.

Và đó là lúc mà thời vận của ông đã đến. Văn phòng hoàng cung của Gia Long gồm một số cơ quan phân tán vì chủ yếu ông giao việc cho đình thần nghị bàn. Minh Mệnh dịch chuyển toàn bộ hệ thống quyền lực của triều đại về điện Thái Hòa và điện Cần Chính. Tất cả tấu sớ, tâu báo và chỉ dụ đều đi qua văn phòng này trước khi tới bàn của hoàng đế. Bộ máy này được mở rộng thành Nội các (1830) và Cơ mật viện (1835) mà từ đây Trương Đăng Quế sẽ là cánh tay đắc lực nhất. Ông nắm giữ vai trò này trong suốt 3 thập niên tới và trở thành mắt xích cực kỳ quan trọng của bộ máy quan liêu ở Huế.

Rõ ràng đây là một quá trình thăng tiến quyền lực rất đáng chú ý, phản ánh chuyển đổi của cấu trúc hành chính và nhà nước ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, khi quyền lực hành chính của chính quyền trung ương từng bước dịch chuyển vào hoàng cung, rơi vào tay cơ quan văn phòng của vua.

Khi Minh Mệnh qua đời năm 1840, Đăng Quế là cố mệnh đại thần duy nhất. Ông đồng thời là thầy dạy của vua Thiệu Trị. Nhà vua sau đó sẽ kết tình thông gia với thầy học bằng cách gả con gái thứ tư của mình cho Trương Đăng Trụ.

Văn quan hàng nhất phẩm, tước công, Đại học sĩ, Cơ mật đại thần, Tổng tài Quốc sử quán, quản lí Binh bộ, kiêm coi Quốc Tử Giám, sung Chủ khảo trường thi Hội; sung độc quyển kỳ thi Điện... Tất cả các tiến sĩ mới của triều đại đều do tay ông lựa chọn. Tuy nhiên, từ cuối thời Thiệu Trị, hệ thống nhà Nguyễn có lẽ đã bắt đầu báo động trước sự gia tăng quyền lực không có đối thủ này. Thiệu Trị, thay vì như cha mình, giao cố mệnh cho một mình Trương Đăng Quế, đã lập ra một ban phụ chính bao gồm Trương Đăng Quế, Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp. Chúng ta nhận thấy trong đó có cả đối thủ của Trương Đăng Quế là Nguyễn Tri Phương.

Năm 1849, đích thân một Đô sát viện Phó đô Ngự sử tố cáo Đăng Quế vượt quá quyền hạn phụ chính đại thần. Vì thế, năm sau đó, nhóm phụ chính này xin thôi:

“Các quan ngự sử tố cáo chúng thần lạm quyền, các tỉnh thần nghi ngờ chúng thần trấn áp, các cộng sự ở triều đình khuyên chúng thần không nên giữ cương vị này quá lâu và sĩ phu trách chúng thần tham quyền cố vị” (Đại Nam liệt truyện).

Dù Tự Đức chấp thuận, quyền lực của Trương Đăng Quế ở Huế là không thể thách thức. Trong khi đó một báo cáo của người Pháp được sử gia người Nhật Y. Tsuboi trích dẫn đã viết:

“Khi chúng ta đến Đà Nẵng, thật ra Trương Đăng Quế đã như vị toàn quyền cai trị từ khoảng 20 năm. Con người đầy quyền lực ấy có vài người bạn thân, hai đối thủ và số còn lại trong các quan ở triều đình và các tỉnh đều là người của ông ta. Bạn thì ông ta đã dần dần triệt tiêu họ; hai đối thủ Nguyễn Đăng Giai và Nguyễn Tri Phương, ông khéo léo đưa họ đi xa khỏi triều đình và khi cần thì xúc xiểm làm hại họ. Ngay từ đầu triều Tự Đức, Giai bị cử ra Bắc Kỳ... Phương bị đưa vào Nam Kỳ, nơi công tác tổ chức rất cần hoàn bị, nơi cần giáo hóa dân chúng... (Y. Tsuboi 1985/1999).

Những tư liệu như thế thế cần phải được xử lí một cách thận trọng. Tuy nhiên, rõ ràng chúng là một phần của thế giới phức tạp mà Trương Đăng Quế can dự vào. Ở đó, không chỉ có tài năng mà còn vận may và cuộc cạnh tranh với các đối thủ chính trị giúp ông đứng vững ở trung tâm quyền lực vương triều hơn 3 thập niên. Ở đó, Minh Mệnh có thể kiểm soát hệ thống một cách vững chắc và đầy quyền uy nhưng con và cháu ông thì dần dần rơi vào bẫy quyền lực của các đại thần.

Cuối cùng, đọng lại từ bóng hình của Trương Đăng Quế, Minh Mệnh, Tự Đức hay sự vôi hóa của nền chính trị vương triều Nguyễn là câu chuyện giữa con người và thể chế. Thể chế dù có chặt chẽ đến đâu mà không có con người vận hành có trách nhiệm, bảo đảm minh bạch và công bằng thì đúng quy trình chẳng qua cũng chỉ là sự hợp thức hóa của sự rạn vỡ quyền lực mà thôi.

***************

* Kỳ tới: Chân dung quyền lực triều Nguyễn (kỳ II): Làm thế nào để trở thành một vị đại tướng được sủng ái?

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.