Trần Hùng: thơ và những giấc mơ thơ

Nhớ một cuối năm rét mướt, tao ngộ trên đất Cao Bằng, nhà thơ Trần Hùng từng trả lời một thắc mắc của người viết bài này về thơ ông: “Anh không làm thơ. Vì anh không nghĩ thơ lại là thứ công việc để anh phải làm hoặc có thể làm. Với lại, cứ nói làm thơ, nghe sao vất vả nặng nhọc quá”.

Nói vậy, và chỉ vậy thôi, rồi Trần Hùng cười, mắt nheo nheo. Con mắt có đuôi, ánh lên gương mặt thư sinh mảnh mai một vẻ tươi tắn trẻ trung đến lạ, dễ khiến cho nhiều người mới gặp Trần Hùng lần đầu khó đoán biết ông đã tuổi ngoại lục tuần, và đã “hưu quan” sau một thời gian dài ngồi ghế lãnh đạo đầu tỉnh ở miền núi non giáp biên này.

“Không làm thơ”, “không nghĩ thơ là thứ công việc để phải làm hoặc có thể làm”, thế nhưng từ năm 1991 đến nay, Trần Hùng đã ấn chứng tư cách thi sỹ của mình bằng việc cho ra mắt độc giả vài thi tập: “Gọi bạn” (1991), “Mơ quê” (1998), “Vườn khuya” (2015), và “Thảm thắc” (2015). Không nhiều, nhưng cũng không ít. Đủ cho kẻ ưa lý sự phải băn khoăn: không làm thơ, vậy từng ấy tập thơ Trần Hùng làm thế nào lại có mặt trên đời? Để hóa giải mối băn khoăn này, có lẽ, cần phải nghĩ về thơ và cái sự “làm thơ” trong quan niệm cũng như trong thực hành của Trần Hùng theo cách khác.

Thơ, với ông, không phải là một danh từ, tức nó không chỉ/ trỏ một loại vật thể mà người ta có thể có được bằng lao tâm sáng chế hoặc gia công tạo tác. Thơ, chính là một động từ, chỉ/ trỏ một trạng thái sống, một hoạt động sống thường trực và tự nhiên của Trần Hùng, tự nhiên như thở, như nghĩ, như cảm giác. Mỗi bài thơ, do vậy, không phải như một sản phẩm của nỗ lực “làm” ra, mà đơn giản chỉ như là sự định dạng hóa bằng ngôn ngữ cho một góc, một mảnh, hoặc một khoảnh khắc hay một thời đoạn mà nhà thơ đã “thơ” mà thôi.

Chú ý đến điều này, ta sẽ cắt nghĩa được tại sao nhiều bài thơ của Trần Hùng lại mang cái vỏ hình thức (vỏ hình thức, tôi nhấn mạnh) của những diễn ngôn đời thường: ngắn gọn, không đều đặn về số chữ giữa các câu, không tựa vào thể, vào vần, không ngại nương vào kể, vào tả, không loại trừ những chi tiết lặt vặt thuộc về sinh hoạt nhân quần. Chúng tự nhiên như những gì đã thực diễn ra trong một ngày thường: “Căn phòng tập thể/ hơn mười mét vuông/ mưa đánh đáo trên giường/ ni lông che màn một/ hai đứa trẻ mừng nhà ướt/ đuổi nhau cười/ bố ngồi/ lặng im hút thuốc” (“Ngày thường”).

Không thể đơn giản hơn, cảnh nhà nghèo mưa dột. Nhưng không đơn nghĩa. Hình ảnh ông bố ngồi lặng im hút thuốc trong khi hai đứa trẻ đuổi nhau cười như thể mừng nhà ướt đã thực sự nói được nhiều hơn cái nghĩa mà từ điển cung cấp cho văn bản. Sự đồng hiện hai hình ảnh trong một khoảnh khắc đã vạch ra cùng lúc nỗi ái ngại, niềm thương cảm, sự cam chịu, những toan tính, và cả những nung nấu quyết tâm thay đổi hoàn cảnh của người trong cuộc. Nói theo chữ cinema, đó là nghệ thuật dựng cảnh. Và trong nghệ thuật này, Trần Hùng đã cho thấy anh còn khá nhiều thủ pháp đắc địa.

Trần Hùng thơ và những giấc mơ thơ -0
Trần Hùng: thơ và những giấc mơ thơ -0
Tác giả và nhà thơ Trần Hùng chụp tại hồ Thang Hen, Trà Lĩnh, Cao Bằng, năm 2020 

Tôi sẽ lấy thêm ví dụ bằng một đoạn trong bài “Giao thừa”, bài thơ mà cố thi sỹ Dương Kiều Minh từng đánh giá rất cao: “Mẹ đứng trước bàn thờ/ rồi tới ngồi bên lửa/ để đun cho nồi nước nóng lên/ rồi lại đun cho nóng lên/ ngoài hiên/ những bông lửa trên trời đỏ rực/ mẹ chợt nhận ra/ mình còn nhiều đứa con/ chúng ra đi đã lâu mà không về/ sao lại như thế nhỉ?” (Giao thừa). Một loạt hành động của người mẹ được dựng nối tiếp nhau trong đoạn thơ này: đứng, ngồi, đun nước, (rồi lại) đun nước… đã diễn tả hết cái cảnh người già một mình lụi cụi với tâm trạng thẫn thờ như mê mụ, để cuối cùng ba chữ “chợt nhận ra” bùng vỡ một thảng thốt: những đứa con của bà đã lâu không về.

Sự bùng vỡ ấy được đặt trên cái nền của “những bông lửa trên trời đỏ rực”, và đặt trong hình dung về mẹ của đứa con đang ở nơi “xa một ngàn cây số”, vào đúng thời khắc giao thừa linh thiêng. Cho nên, chủ âm của bài thơ không phải là tình mẹ, mà là nỗi con, nhớ và thương quặn thắt, và nhuốm một màu ngậm ngùi, ân hận…

Trần Hùng còn nhiều nữa những bài thơ gây được xúc động về các mối quan hệ người và các loại tình cảm nhân tính phổ quát. Nhưng với người viết bài này, đó vẫn chưa là mạch chính, chưa là chủ lưu, chưa là điều đáng chú ý nhất về Trần Hùng thơ. Chiếm vị trí ấy, có lẽ phải là những bài thơ hiện diện như sự in dấu của những giấc mơ: “Hoa cải vàng bay bay trên sông/ dòng sông im mơ mơ cánh đồng/ cánh đồng thơm như tóc/ nồng nàn như tóc/ râm ran mưa mưa nước trong lưa thưa/ người đi như sương gót sương tinh khiết/ người như là cây da mồi nảy lộc/ này quần lụa chanh này áo hoa chanh/ này ru bánh xe nan hoa lách tách/ cay cay hương khói bến xuân” (“Sương hương bay”).

Không cần tác giả phải thành thật rào trước rằng “tôi chìm vào một giấc mơ và trong mơ tôi thấy…” thì những hình ảnh xuất hiện trong bài thơ vẫn cho phép ta nghĩ đến những hình ảnh của một giấc mơ. Hệ thống từ láy được sử dụng dày đặc ở đây (bay bay, mơ mơ, mưa mưa, cay cay, nồng nàn, râm  ran, lưa thưa, lách tách) cùng sự áp đảo của những chữ thanh bằng đã tạo nên một giai điệu nhịp nhàng, êm dịu như ru, những sắc nét của cảnh cũng được mờ hóa, có xu hướng tan nhòa vào nhau để làm thành một tổng thể mơ màng, đầy quyến dụ.

Có thể nói, bài “Sương hương bay” rất giàu nhạc tính này chính là một giấc mơ-thơ-mùa xuân thật đẹp của Trần Hùng. Mơ, như thế, không nhất thiết là một dạng hoạt động tinh thần chỉ diễn ra khi người ta đang ngủ. Mơ còn là cách để nhà thơ ý thức về thực tại và chiếm lĩnh thực tại cho riêng mình (việc này không liên quan gì đến giấc ngủ sinh lý). Nếu nhà mỹ học Ch. Caudwell từng khẳng định rằng nhà thơ thường xuyên bóp méo cấu trúc của thực tại để giữ lấy cấu trúc của cái tôi, thì Trần Hùng là một trong những người đã thực hiện sự bóp méo ấy chính bằng mơ. Mơ là nhào trộn quá khứ với hiện tại trong một thực tại mới, nhiều khi là một thực tại phi thực, kỳ quái. Mơ là tưởng tượng không giới hạn, là liên tục đặt mình vào những trường nghĩa và những liên văn bản đầy bất ngờ.

Mơ là thực hành những cú pháp hình ảnh xen lấn, xếp chồng, nhảy cóc, đảo nghịch…, là đột ngột sinh thành những sững sờ thi ảnh: “Người mang về bao nhiêu hoa cúc/ người cài lên bao nhiêu lá vàng/ lối thu râm ran/ lối nhớ từng đêm xanh/ xe đạp bên tường cũ/ người bỏ đi đâu/ áo phơi bao nắng bao năm hoàng hôn vẫn bến/ ta mơ về em bàn tay gân xanh/ ta mơ về em ngực gầy khăn mỏng/ môi nảy một vì sao/ vì sao đỏ thắm/ vút lên đêm” (“Nảy một vì sao”). Trong những giấc mơ thơ của Trần Hùng, trăng xuất hiện khá nhiều.

Trăng không chỉ là yếu tố thuộc về khung khổ của giấc mơ, mà trăng còn được vật thể hóa, và được hóa thân thành tâm hồn của vật thể trong sự đối ứng với con người: “Dắt tay em vào rừng trăng/ rừng trăng thảm thiết/ hồn trăng thinh khiết/ người làm cây trăng” (“Trong vườn khuya”). Chìm vào không gian trăng mơ siêu thực ấy, như được mặc khải, thi sỹ nhận thấu những sự thật cốt lõi: “nếu em còn mơ thấy anh/ hãy cầm sợi tóc vương trên gối/ gieo xuống/ cây đêm sẽ mọc lên/ cây đêm cần giọt nước mắt yêu/ và vì thế cây đêm sẽ héo” (“Trong vườn khuya”). Cây đêm sẽ héo, bởi sẽ không có giọt nước mắt yêu nào dành cho nó. Đó là sự thật, thật như định mệnh của thi sỹ là phải mang cây thập giá cô đơn suốt cuộc đời. Cô đơn trong không gian, và cô đơn cả trong thời gian, luôn luôn một mình sau những tuyệt vọng xóa bỏ xa lạ: “chúng mình xa nhau – một tiếng thở dài/ chúng mình xa nhau – một đêm sâu lắm/ mơ thành hai giọt sương/ mơ thành hai viên sỏi trắng/ mơ vết thương không liền da, mơ cánh chim ngày ẩm ướt/ mơ đêm trăng không vòm cây ẩn nấp/ mơ mùa không tên” (“Trong cơn đau”).

Giữa cái thế giới ấy, để trái tim thi sỹ có thể neo trú và tìm được cho mình sự bình yên tạm thời, chỉ có một miền: đó là ký ức về nguồn, về cái ngày xưa phiếm định, về lúc mà mọi vật mọi sự vẫn còn nguyên khối, tươi ròng, tất cả mới chỉ bắt đầu và chưa hề biết đến vị của lai tạp, bào mòn, phôi pha. Thơ Trần Hùng, do vậy, có thể nói, là lớp lớp những giấc mơ của mất mát và kiếm tìm “ngày xưa”, “ngày ấy”, “ngày nào”: “Về đây/ những dấu chân lấm láp phù sa/ nắng hanh hao vườn chè vạt mía/ qua thác cao bão nước/ niềm trinh tĩnh vỡ òa/ ngày ấy/ ve không miên man như bây giờ/ vẫn còn khoảng trống cho tiếng gióng cửa – trâu về chuồng/ tiếng quạt muỗi của mẹ ta mỗi tối/ tiếng của những cánh dơi/ ngày ấy – lâu rồi” (“Thời gian”). Và: “Cánh bướm vàng bay bay/ phấn hoa cải vàng bay bay/ cá trăng thiêm thiếp/ ngó sen thiêm thiếp/ ai còn nhớ rõ/ những ngón tay đồng trinh lấm bùn từ khi nào” (“Cố hương”). Hoặc: “Người bốc mộ đi về phía chân trời/ còn tôi với hình hài người yêu tôi/ niềm kiêu hãnh của tôi – cái đẹp thiên thần tới đây rồi/ bạc trắng thời gian/ nhắm mắt thờ mùa thu ấy/ trong thịt da mơn mởn ngày nào” (“Cơn mơ”).

Thơ Trần Hùng còn là thơ, ở những mảng tác phẩm nhất định, mang đậm tính hiện đại. Tôi tin rằng đây là một xác quyết không nhẹ ký, cho dẫu, theo một mặc định phổ quát đã trở nên rắn chắc, thời mà chúng ta đang sống là thời “hiện đại”, và nền thơ Việt Nam thì đã bước vào chặng “hiện đại” từ lâu rồi, kể từ khi các nhà Thơ Mới làm nên “một thời đại trong thi ca”. Nhà thơ hiện đại phải là người chơi với chữ, để mặc chữ quan hệ với chữ mà phát sinh nghĩa. Thanh Tâm Tuyền, Trần Dần, Lê Đạt… là những thi sỹ đã làm được điều này. Tiếp bước họ, chỉ có một số ít thi sỹ, trong đó có Trần Hùng, dám liều mình thử sức trong cái trò chơi rất dễ biến chủ thể trở thành xa lạ, khó hiểu với “văn hóa thơ của số đông” như vậy.

Trần Hùng khởi những giấc mơ thơ của mình quãng cuối những năm 1980, đầu những năm 1990, đúng vào lúc thơ Việt Nam hiện đại, với làn sóng của những Trúc Thông, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Linh Khiếu, Nguyễn Việt Chiến… đang bắt đầu chuyển mình, rồi tăng tốc, để xác lập một hệ hình thẩm mỹ thi ca mới. So với những tên tuổi kể trên, Trần Hùng lặng lẽ, khiêm tốn hơn, ít gây ồn ào chú ý hơn. Một phần, bởi con người xã hội mà ông hiện diện thuộc về một đời sống khác, khác hẳn đời sống của người sáng tạo văn chương nghệ thuật.

Phần nữa, bởi dường như ông không mấy quan tâm đến việc phải chia sẻ những giấc mơ thơ của mình với người khác. (Trần Hùng ít xuất bản thơ, kể cả là “xuất bản miệng”. Trong những trò chuyện đời thường, anh cũng không mấy khi đề cập chuyện thơ phú). Nhưng dù vậy, vị tất Trần Hùng đã không hết mình trên con đường thơ mà ông chọn, như một con đường sống? “Chạm vào lưỡi lam/ bướm không bay nữa/ nhì nhạch giữa hoa/ nắng nhỏ màu mười giờ” (“Rã cánh”). Là Trần Hùng tự họa mình giữa thơ đấy chăng? Tôi tin thế.

Hoài Nam

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.