Tôn vinh và bảo vệ những văn bản thời lập quốc như báu vật quốc gia

Vào năm 2004, nhằm nhắc nhở công dân Hoa Kỳ về văn kiện lịch sử định hình nhà nước Hiệp chủng quốc, một sửa đổi được đính kèm theo dự thảo chi tiêu thường niên (omnibus spending bill) ghi nhận ngày 17-9 hằng năm trở thành Ngày Lập hiến. Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử.

Được soạn thảo vào ngày 17-9-1787 và bắt đầu có hiệu lực vào năm 1789; nó đã được tham khảo nhiều lần để làm mô hình cho các hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới. 76 năm sau, Tổng thống Mỹ thứ 16 Abraham Lincoln lại chấp bút viết một bài diễn văn đọc chỉ trong hơn hai phút nhưng là bài diễn văn có sức hồi sinh một đất nước mang đầy thương tích sau cuộc nội chiến tàn phá nhất trong lịch sử Mỹ. Cùng với Bản Tuyên ngôn Độc lập, nhiều đời tổng thống Mỹ luôn xem các văn bản này là những báu vật quốc gia.

Những "hạt sạn" trong dự thảo Hiến pháp và Hội nghị Lập hiến năm 1787

Hiến pháp Hoa Kỳ dựa trên tư tưởng tam quyền phân lập giữa ba nhánh lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Tổng thống), tư pháp (tòa án) do Montesquieu, một triết gia người Pháp đề xướng. Hiến pháp được phê chuẩn sau các cuộc hội nghị tại 13 tiểu bang đầu tiên của nước Mỹ.

Bức ảnh duy nhất của Abraham Lincoln (ngồi giữa), tại Gettysburg, ba giờ trước khi ông đọc diễn văn.
Bức ảnh duy nhất của Abraham Lincoln (ngồi giữa), tại Gettysburg, ba giờ trước khi ông đọc diễn văn.

Cùng với Tuyên ngôn Độc lập viết năm 1776, bản hiến pháp này thể hiện tinh thần khoa học, tiến bộ và nhân bản của những nhà lập quốc trong việc xây dựng một nhà nước cộng hòa đầu tiên. Thủ tướng Vương quốc Anh William Ewart Gladstone (1809 - 1898) đã miêu tả hiến pháp này là "tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí tuệ và mục đích của con người". 

Ngày 17-9-1787 đánh dấu thời điểm mà 38 trong 41 đại biểu có mặt từ 13 tiểu bang (trên tổng số 55 đại biểu chính thức) tại Hội nghị Lập hiến Philadelphia ký vào bản dự thảo Hiến pháp Hoa Kỳ, chính thức hoàn thiện một trong những văn kiện quan trọng và truyền cảm hứng nhất trong lịch sử cận đại của nhân loại. Chỉ với 7 điều và 27 tu chính án, Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp ngắn nhất so với hiến pháp của bất kỳ quốc gia nào có chủ quyền trên thế giới (để so sánh, Hiến pháp Ấn Độ là bản hiến pháp dài nhất với 395 điều và 94 tu chính án).

Vào cuối phiên họp, dân biểu George Mason của bang Virginia đã đưa ra kiến nghị bổ sung các quy định liên quan đến quyền hiến định của công dân Hoa Kỳ vào bản Hiến pháp.

Tuy nhiên, vì nhiều lý do về mâu thuẫn giữa những học giả ủng hộ thuyết liên bang (Federalist) và chống thuyết liên bang (Anti-Federalist) cũng như thời hạn ít ỏi còn lại dành cho Hội nghị Lập hiến mà đề nghị của ông đã bị gác lại. Các học giả ủng hộ thuyết liên bang cho rằng việc quy định quá chi tiết các nội dung trong Hiến pháp là không cần thiết khi mà công dân Hoa Kỳ và chính quyền tiểu bang đương nhiên được nắm giữ những quyền mà chính phủ liên bang không có.

Phía ngược lại, các học giả chống thuyết liên bang quan niệm rằng quyền của công dân Hoa Kỳ và những giới hạn chặt chẽ đối với chính phủ liên bang được ghi nhận hiến định mới là cơ sở vững chắc cho một nền dân chủ mới. Vì vậy, trong bản gốc của Hiến pháp chưa có Tuyên ngôn nhân quyền (Bill of Rights-Tuyên ngôn này chỉ được đưa vào Hiến pháp năm 1791).

Mâu thuẫn này cho thấy không phải cả 38 đại biểu dự hội nghị đều đồng thuận. Đại biểu Edmund Randolph từ bang Virginia và George Mason cho rằng, nhân dân tại các bang sẽ khó chấp thuận Hiến pháp vì vậy họ từ chối ký vào bản dự thảo.

Dân biểu Elbridge Gerry từ bang Massachusetts có phần bi quan hơn khi cho rằng, việc chấp thuận bản Hiến pháp có thể làm nổ ra một cuộc nội chiến. Riêng George Mason đã tự mình đưa ra 16 phản biện đối với bản thảo cuối cùng của bản Hiến pháp, trong đó có đề cập đến sự vắng mặt của một Tuyên ngôn nhân quyền và một biện pháp nhằm lập tức bãi bỏ việc buôn bán nô lệ. Nhìn chung ông cho rằng, Hiến pháp vẫn chưa là một văn bản luật tối cao có thể bảo vệ tốt nhất quyền của công dân.

Trong số 13 bang đầu tiên, chỉ có tiểu bang Rhode Island không có đại biểu có mặt tại Hội nghị Philadelphia. Năm 1788, cư dân tiểu bang này đã phủ quyết việc phê chuẩn Hiến pháp trong cuộc trưng cầu dân ý với số lượng áp đảo. Phải đến ngày 29-5-1790, Rhode Island mới là tiểu bang cuối cùng trong số 13 tiểu bang phê chuẩn; nhưng với tỷ lệ sát sao 34 phiếu thuận / 31 phiếu chống.

Rất ít người, ngay cả công dân sở tại biết rằng, bản dự thảo ban đầu của Hiến pháp Mỹ có kha khá… lỗi chính tả và ngữ pháp! Một trong số đó có thể kể đến từ "Pennsylvania" bị viết thành "Pensylvania" ở mục liệt kê chữ ký; từ "choose" (lựa chọn) được phiên âm thành "chuse" trong toàn văn bản.

Việc bổ sung Tuyên ngôn Nhân quyền sau này đã bao gồm cả việc đảm bảo ngữ pháp theo chuẩn Anh quốc. Kể từ khi được ký kết, gần 11.000 sửa đổi đã được đề xuất bổ sung vào Hiến pháp. Hai từ ngày nay rất phổ biến đối với công dân Hoa Kỳ là "Chúa" và "Dân chủ" thì trong bản Hiến pháp thuở sơ khai, hai từ này đều không được đề cập đến. Mối liên hệ gần nhất với "Chúa" trong văn kiện chỉ có thể tìm thấy ở phần liệt kê ngày phê chuẩn tại Điều VII "…trong năm của Đức Ngài" ("…in the Year of our Lord").

Suốt quá trình diễn ra Hội nghị, những nhà lập quốc tiêu biểu đã vắng mặt. Như Thomas Jefferson (người soạn thảo chính của Tuyên ngôn Độc lập, tổng thống đời thứ ba của Hoa Kỳ) và John Adams (Tổng thống đời thứ hai) đang ở châu Âu. Samuel Adams (Triết gia chính trị và chính khách - nổi tiếng với tư tưởng quyền tự do trang bị vũ trang của công dân Hoa Kỳ, được ghi nhận trong Tu chính án thứ 2)…

Bài diễn văn hồi sinh một đất nước tương tàn vì nội chiến

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ (1861-1865), trận chiến xung quanh thành phố Gettysburg thuộc bang Pennsylvania diễn ra vào tháng 7-1863 được xem là đẫm máu và khốc liệt nhất, cũng là khúc quanh lịch sử cho cuộc chiến.

Nguyên bản Hiến pháp Hoa Kỳ.
Nguyên bản Hiến pháp Hoa Kỳ.

Hiểu rõ động lực nội tại của chiến tranh, sự leo thang của lòng thù hận, tại buổi lễ khánh thành Nghĩa trang quốc gia Gettysburg vào tháng 11 - 1863, giữa lúc khói lửa vẫn bao trùm nước Mỹ, Tổng thống Abraham Lincoln đọc bài diễn văn lịch sử mang hàm ý hàn gắn vết thương của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Bài diễn văn là những câu đơn giản nhưng đi sâu vào lòng người, những câu chữ được viết ra từ trái tim nặng lòng trắc ẩn:

"87 năm trước, ông cha chúng ta đã khai sinh ra trên lục địa này một quốc gia mới, được thai nghén trong tự do, và sống hiến dâng cho lý tưởng được đề ra rằng, tất cả mọi người được tạo hóa sinh ra bình đẳng.

Giờ đây chúng ta đang lâm vào một cuộc nội chiến lớn, thử thách xem quốc gia này, hay bất cứ quốc gia nào được thai nghén và sống hiến dâng như thế, có thể tồn tại được lâu dài hay không. Chúng ta gặp nhau trên một chiến trường lớn của cuộc chiến này. Chúng ta đến để hiến dâng một phần đất nhỏ của chiến trường này làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những người đã để lại mạng sống mình tại đây, để cho quốc gia này có thể tồn tại.

Tuy nhiên, theo một nghĩa rộng hơn, chúng ta không thể hiến dâng, không thể tôn phong, không thể thánh hóa mảnh đất này. Chính những con người dũng cảm đã chiến đấu tại đây, dù còn sống hay đã chết, đã làm cho nó thiêng liêng, vượt xa khả năng kém cỏi của chúng ta…Chính chúng ta, những người còn sống, mới phải hiến dâng mình cho công việc dở dang mà những người chiến đấu ở đây đã tiến hành một cách cao quý. Chính chúng ta mới là những người phải hiến dâng mình cho nhiệm vụ lớn còn ở trước mặt, chúng ta sẽ tận tụy nhiều hơn cho sự nghiệp mà họ đã cống hiến đến hơi thở cuối cùng, tất cả chúng ta ở đây sẽ quyết tâm để những người đã ngã xuống sẽ không cảm thấy hoài phí sự hy sinh…".

Bài diễn văn có sức tái tạo lại đất nước sau cuộc nội chiến tàn phá nhất trong lịch sử Mỹ, nó toát lên tinh thần trách nhiệm cao cả của tất cả những người còn sống đối với sự nghiệp tái thiết hòa bình, nó tái khẳng định lý tưởng Tự do, Bình đẳng đã được ghi trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ.

Trong lịch sử nhân loại, có lẽ có hai bài diễn văn tưởng niệm người chết bảo vệ tự do nổi tiếng nhất: Một là của Pericles viết ra vào 2.394 năm trước đó trong trận chiến tranh giữa Hy Lạp và liên minh Peloponnesus do Sparta cầm đầu kéo dài 27 năm.

Bài diễn văn này được Thucydides viết lại, nhưng ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của cựu lục địa và Hoa Kỳ. Và bài thứ hai là của Lincoln. Nhà sử học Garry Wills từng đánh giá: "Bằng bài diễn văn khúc chiết và lay động lòng người, Lincoln đã đem lại cho nhân dân Mỹ một quá khứ mới để sống trong đó, và quá khứ này sẽ mãi mãi thay đổi tương lai".

Nhiệm vụ tuyệt mật bảo vệ báu vật quốc gia

Tối ngày 26-12-1941, một đoàn tàu trên đường tới căn cứ quân sự Fort Knox, bang Kentucky bỗng dừng lại tại nhà ga Washington. Một nhóm người hối hả chuyển lên một toa tàu những rương gỗ nhỏ được đóng đai thép và bấm ổ khóa không khác gì những rương hòm đựng châu báu.

Hơn cả châu báu thông thường, bên trong chúng chứa những báu vật quốc gia mà chỉ vài người trong hàng ngũ lãnh đạo nước Mỹ mới nắm được tầm mức giá trị vô cùng to lớn: Bản Tuyên ngôn Độc lập của Hiệp chủng quốc, bản gốc Hiến pháp và bản nháp Diễn văn Gettysburg có ý nghĩa hết sức trọng đại trong đời sống tinh thần của Hoa Kỳ do cố Tổng thống Abraham Lincoln chấp bút. Những báu vật này của nước Mỹ đang được bí mật chuyển đi cất giấu ngay sau sự kiện những chiếc máy bay trong phi đội Thần Phong Nhật Bản tấn công nhiều hạm thuyền hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng.

Người trực tiếp đưa ra quyết định này là Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt bởi ông hiểu rất rõ "giá trị biểu tượng của các văn bản này và những thảm họa về tinh thần mà người Mỹ phải hứng chịu nếu chúng bị phá hủy", ông Stephen Puleo, tác giả cuốn sách "Báu vật quốc gia Mỹ", cho biết.

Theo Puleo, mối lo lắng của tổng thống Roosevelt là hoàn toàn có cơ sở vì khi ấy cũng xuất hiện nhiều mối nghi ngại về việc phát xít Đức có thể tấn công thủ đô Washington. "Các tàu ngầm Đức liên tục xuất hiện ngoài khơi bờ biển phía đông nước Mỹ, đánh chìm những con tàu hoạt động gần mũi May và mũi Cod" - Puleo kể -"Mọi người đều nghĩ không sớm thì muộn những chiếc máy bay oanh tạc sẽ kéo đến. Vì thế, quyết định di chuyển các báu vật quốc gia đến một nơi an toàn không phải là ý tưởng khác thường".

Tổng thống Roosevelt chỉ định Archibald MacLeish, người đứng đầu Thư viện Quốc hội, chịu trách nhiệm lập danh mục và bảo vệ các hồ sơ, giấy tờ liên quan đến lịch sử. MacLeish cùng 700 nhân viên Thư viện Quốc hội đã làm việc bất kể ngày đêm để phân loại hàng nghìn tài liệu, xếp hạng chúng theo ý nghĩa lịch sử.

Từ đó, khoảng 5.000 bản thảo đã được di dời khỏi Washington, trong đó có bản gốc quyển Kinh thánh in bằng kỹ thuật Gutenberg, cha đẻ của kỹ thuật in; bản ghi chú viết tay của Tổng thống Mỹ đời thứ 4 James Madison về Hội nghị Lập hiến, Điều lệ Liên bang, giấy tờ cá nhân của cố Tổng thống Mỹ George Washington... Lúc đầu, Tổng thống Roosevelt chỉ định những tài liệu quan trọng này phải được đưa tới lưu trữ ở Fort Knox, nơi có hầm chứa vàng an toàn bậc nhất thế giới của Mỹ, nhưng nếu như vậy thì không khác gì "đem tất cả trứng bỏ vào một rổ".

Người thủ thư tâm huyết MacLeish phải cân nhắc các địa điểm cất giấu khác, như trong hang động, hầm ngầm hay các mỏ khoáng sản đã thôi khai thác, nhưng ở những nơi thế này, văn khố giấy tờ có tuổi đời hàng trăm năm sẽ bị sâu bọ và ẩm mốc tấn công. Cuối cùng, chúng được chuyển tới ba ngôi trường là Đại học Virginia ở thành phố Charlottesville, Đại học Washington and Lee và Học viện Quân sự Virginia tại Lexington. Cả ba địa điểm đều nằm cách xa bờ biển để trong trường hợp phát xít Đức tấn công từ ngoài khơi, các lực lượng bảo vệ sẽ nước Mỹ sẽ ngăn không để các báu vật quốc gia dễ dàng lọt vào tay quân thù.

Nhưng một phóng viên ở Lexington bằng cách nào đó đã phát hiện ra thông tin về các rương hòm đóng đai thép có ghi "Tài sản của Thư viện Quốc hội". Các thủ thư thuộc Đại học Washington and Lee đã tiết lộ vài thông tin cho tay phóng viên kia biết.

MacLeish lập tức gọi tất cả đến và đe dọa sẽ đuổi thẳng cổ họ nếu còn hé lộ bất kỳ thông tin nào. Tay phóng viên tọc mạch bất ngờ bị điều đi công tác ở các bang bờ tây nước Mỹ. Điều Tổng thống Roosevelt lo lắng đã không xảy ra. Sau chiến tranh, gần 5.000 văn bản, tài liệu; trong đó có 3 văn bản báu vật quốc gia đã lần lượt quay về Washington.

Q.H. (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.