Tổn thất ngoài dự kiến của "Kế hoạch Đầu Sấm - Operation Thunderhead"

Ngày 12-6-1972, tàu ngầm Grayback được lệnh rút về căn cứ Subic, Philippines. Kế hoạch "Đầu Sấm" xem như kết thúc. Cũng trong ngày này, cha mẹ của Trung úy Dry ở Mỹ nhận được tin báo của Hải quân về cái chết của con trai mình với lời giải thích "hy sinh trong một nhiệm vụ đặc biệt bí mật"….

Tiến thoái lưỡng nan

0 giờ 18 phút ngày 3-6-1972, chiếc SDV chở theo Trung úy Dry, Thượng sĩ Martin, Trung úy John Lutz và binh nhất Edwards lướt đi trong vùng nước tối đen. Thời điểm này, hệ thống định vị qua vệ tinh chưa ra đời nên việc định hướng chỉ trông vào tấm bản đồ bằng nhựa và chiếc la bàn.

Trung tá Chamberlain, chỉ huy tàu ngầm Grayback nhớ lại: "Khi sĩ quan phụ trách buồng áp suất báo rằng nhóm SEAL đã lên đường an toàn, tôi biết họ không chỉ cần đến kỹ năng điều khiển chiếc SDV, mà còn phải có sự am hiểu về phương hướng".

10 phút sau khi ra khỏi tàu ngầm Grayback, Trung úy Dry ra hiệu cho Martin nổi lên. Trời hôm ấy đầy mây, không một ánh sao, sóng biển cao khoảng 2m. Xung quanh họ là một màu đen mịt mùng. Chiếc SDV với 4 biệt kích lầm lũi tiến về phía trước với tốc độ 6km/giờ. Thượng sĩ Martin kể: "Khi vào đến tọa độ mà trên bản đồ không ảnh là hòn đảo nhỏ, chúng tôi tìm kiếm hơn một tiếng đồng hồ nhưng vẫn không thấy nó ở đâu. Đôi lúc, tôi mong nhìn được ánh đèn nhấp nháy của một tàu đánh cá Bắc Việt Nam nào đó để xác định vị trí nhưng ngoài chúng tôi ra thì chẳng có gì".

Trung úy Dry (trái) và Thượng sĩ Martin (giữa) cùng thuyền trưởng tàu ngầm Grayback tuyên thệ giữ tuyệt đối bí mật về Kế hoạch Đầu Sấm (ảnh của NAVY-SEAL).
Trung úy Dry (trái) và Thượng sĩ Martin (giữa) cùng thuyền trưởng tàu ngầm Grayback tuyên thệ giữ tuyệt đối bí mật về Kế hoạch Đầu Sấm (ảnh của NAVY-SEAL).

1 giờ 40 phút, tín hiệu báo nguồn pin của chiếc SDV đã xuống thấp, chỉ còn hoạt động được chừng nửa giờ. Biết là không thể kéo dài cuộc tìm kiếm, Dry ra lệnh cho chiếc SDV quay lại tàu ngầm Grayback nhưng cũng như "hòn đảo nhỏ", họ không tìm thấy chiếc Grayback ở đâu mặc dù theo quy ước, 1 tiếng sau khi SDV rời Grayback, nó sẽ nổi phần tháp chỉ huy lên khỏi mặt nước để các biệt kích SEAL trên tàu SDV nhận diện. Thượng sĩ Martin kể: "Khi không tìm được chiếc Grayback, Trung úy Dry quyết định chạy thẳng ra biển vì càng gần sáng, chúng tôi càng có nguy cơ đụng độ tàu tuần tra của Bắc Việt Nam".

2 giờ 24 phút sáng ngày 3-6, chiếc SDV hết pin. 4 biệt kích SEAL cho thả trôi tự do. Lúc này, tàu hỗ trợ Squadron HC-7 do không nhận được thông tin gì về nhóm biệt kích từ tàu ngầm Grayback nên 5 giờ sáng, thuyền trưởng Squadron HC-7 ra lệnh cho một trực thăng HH-3A bay đi tìm kiếm. Thượng sĩ Martin nói: "Họ kéo chúng tôi lên lúc 5 giờ 27 phút. Trước đó, chúng tôi buộc lòng phải đánh chìm chiếc SDV vì trực thăng không thể cẩu nó theo được".

Gần 6 giờ, chiếc HH-3A thả 4 biệt kích SEAL xuống boong tàu tuần dương USS Long Beach, là nơi đặt Bộ chỉ huy "Kế hoạch Đầu Sấm". Sau khi liên lạc với tàu ngầm Grayback, Trung úy Dry và nhóm biệt kích được lệnh quay lại, sử dụng chiếc SDV thứ hai để tiếp tục cuộc tìm kiếm Đại tá Dramesi và Đại úy Atterberry nhưng không ai giải thích cho họ biết vì sao họ không tìm thấy vị trí của chiếc Grayback như đã quy ước trước lúc lên đường.

Binh nhất Edwards kể lại: "Tôi được phổ biến rằng chiến dịch giải cứu sẽ kéo dài trong 3 tuần cho đến khi - hoặc là tìm thấy 2 phi công - hoặc là không - nhưng tôi cảm thấy nghi ngờ về nơi ẩn náu của họ bởi lẽ tất cả các phi công đều được học về kỹ thuật mưu sinh thoát hiểm. Nếu quả thật họ đang ở tại hòn đảo đó thì chắc chắn họ sẽ tạo ra những dấu hiệu đặc biệt trên mặt đất để báo cho máy bay trinh sát như một số phi công bị bắn rơi trước đây vẫn thường làm…".

Trưa ngày 3-6, đột ngột có sự xuất hiện bất thường của một số tàu phóng lôi Bắc Việt Nam nên tàu hỗ trợ Squadron HC-7 và tàu ngầm Grayback được lệnh rút ra hải phận quốc tế. Hình ảnh từ máy bay trinh sát RF-101 cho thấy ngoài tàu phóng lôi, còn có một số thuyền đánh cá hoạt động gần "hòn đảo nhỏ" nên bộ chỉ huy "Kế hoạch Đầu Sấm" lại càng có cơ sở để tin là Đại tá Dramesi và Đại úy Atterberry đã trốn thoát.

Trung tá Chamberlain, chỉ huy tàu ngầm Grayback nhớ lại: "Vì thế, tốt nhất là không nên làm điều gì khiến cho người Bắc Việt Nam nghi ngờ, nhất là ở hải phận quốc tế còn có 2 tàu trinh sát điện tử của Liên Xô, ngụy trang tàu đánh cá, thường xuyên lảng vảng gần tàu Squadron HC-7".

Tổn thất ngoài dự kiến

23 giờ ngày 5-6, trực thăng HH-3A trên tuần dương hạm USS Long Beach đưa nhóm biệt kích SEAL trở về tàu ngầm Grayback. Thiếu úy John L. Wilson, phi công lái chiếc HH-3A kể: "Để giữ bí mật, chúng tôi được lệnh không liên lạc bằng vô tuyến, mà dùng kính hồng ngoại để quan sát vị trí của tàu ngầm. Theo quy ước, Grayback sẽ chỉ nhô kính tiềm vọng lên khỏi mặt nước và ở phần đỉnh của kính tiềm vọng, có một ngọn đèn màu đỏ nhỏ xíu, đặt trong một chiếc ống, cứ 30 giây nó chớp sáng 1 lần, chỉ có thể nhìn thấy từ trên không".

Biệt kích SEAL cùng chiếc SDV ra khỏi tàu ngầm Grayback để tiến vào "hòn đảo nhỏ".
Biệt kích SEAL cùng chiếc SDV ra khỏi tàu ngầm Grayback để tiến vào "hòn đảo nhỏ".

Trước đó, khi trực thăng chuẩn bị cất cánh, Trung úy Dry và Thượng sĩ Martin đã thống nhất với phi công rằng khi nhận ra vị trí của chiếc Grayback, trực thăng sẽ bay cách xa nó khoảng 20m, tốc độ 40km/giờ, ở độ cao không quá 7m để 4 biệt kích nhảy xuống, bơi về tàu ngầm.

Wilson, phi công trực thăng HH-3A nói: "Trời rất u ám, gió thổi mạnh, sóng biển cao hơn 2m. Tôi lái chính, còn lái phụ là Thiếu úy David Moore và Thiếu tá Hải quân Edwin L. Towers, sĩ quan tham mưu thuộc Hạm đội 7 chịu trách nhiệm tìm kiếm vị trí tàu Grayback".

Có lúc, trực thăng lướt vào gần bờ và ánh sáng lập lòe phát ra từ một ngôi nhà nào đó đã khiến họ tưởng là chiếc Grayback nhưng chỉ trong tích tắc, họ nhận ra ngay là họ đã lầm. Cũng có lúc do nóng lòng tìm kiếm, trực thăng sà xuống sát mặt nước, thấp đến độ sóng biển ập vào trong khoang, Thiếu tá Hải quân Edwin L. Towers ngồi ngay cửa lên xuống ướt sũng. Phi công Wilson nói tiếp: "Tôi sợ đến dựng tóc gáy. Đó là một đêm không thể nào quên được".

Suốt 20 phút quần đảo, chiếc HH-3A vẫn không thấy đèn hiệu của tàu ngầm Grayback ở đâu, phi công Wilson gần như tuyệt vọng trong lúc Dry luôn miệng nguyền rủa với Wilson qua microphone trong mũ bay: "Quỷ tha ma bắt chiếc tàu ngầm chết tiệt ấy đi".

Thượng sĩ Martin kể lại: "Trung úy Dry đã rất muốn nhảy xuống vì anh ấy tin rằng chiếc Grayback đang nằm ở đâu đó dưới kia. Qua cái ánh sáng màu đỏ mờ mờ hắt ra từ chiếc bóng đèn trong khoang trực thăng, khuôn mặt Dry đanh lại và câu nói cuối cùng của Dry với tôi là: "Chắc chắn chúng ta sẽ tìm thấy chiếc Grayback".

Phút thứ 27 đêm ngày 5-6-1972, phi công Wilson thấy một ánh sáng nhấp nháy và anh ta tin rằng đó là tín hiệu của chiếc Grayback. Lúc này, gió thổi với tốc độ 12m/giây nên trực thăng không thể bay treo để tạo an toàn cho nhóm biệt kích nhảy xuống. Phía dưới, lực từ cánh quạt trực thăng tạo ra những đợt sóng bụi nước biển nối tiếp nhau, lập lòe ánh sáng lân tinh của những sinh vật phù du. Sợ mất thời cơ nên không cần nhìn vào đồng hồ đo độ cao và đồng hồ tốc độ của trực thăng, phi công Wilson vỗ vai Dry, kêu lớn: "Nhảy, nhảy".

Trung úy Dry lao ra đầu tiên, theo sau là Trung úy John Lutz, Thượng sĩ Martin và binh nhất Edwards. Nhìn thấy họ trôi lướt về phía sau rất nhanh, phi công Wilson biết là sai sót nhưng đã quá muộn. Martin kể: "Vừa lao ra khỏi trực thăng, tôi bắt đầu đếm. Chúa ơi, khi thân hình tôi chìm xuống nước, tôi biết mình đã nhảy ra từ độ cao 20m dựa vào thời gian rơi. Đó là khoảng cách nguy hiểm cho bất kỳ người nào dù họ nhảy ở bất kỳ tư thế nào".

Rơi xuống nước trong tư thế nằm ngửa, vài phút sau đó Dry chết vì gãy đốt sống cổ. Trước khi chết, Dry vẫn kịp tháo chốt bình hơi nén cho áo phao phồng lên. 3 biệt kích SEAL còn lại đều bị thương. Thượng sĩ Martin kể: "Vội vã làm phồng áo phao, tôi lên tiếng gọi nhưng chỉ nghe Trung úy Lutz trả lời yếu ớt, anh ấy bị chấn thương vùng ngực, thở rất khó khăn. Cả hai chúng tôi vừa bơi, vừa tìm kiếm. Một lát, tôi gặp Edwards, cậu ta bị gãy xương sườn và đang trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê. Tầm nhìn khi đó gần như bằng không nên chúng tôi chỉ biết mò mẫm trong bóng tối".

Không tìm thấy Trung úy Dry, Martin, Lutz dìu Edwards bơi ra biển. Sau này, phi công Wilson mới biết ánh sáng nhấp nháy mà anh ta tưởng đó là đèn hiệu của tàu ngầm Grayback thì thật ra nó là của chiếc SDV thứ hai, chở theo 4 biệt kích là Tim R. Reeves, Richard C. Hetzell, Eric A. Knudson và Michael J. Shortell, họ mở đèn báo cho trực thăng biết vị trí của họ.

Trung tá Chamberlain, chỉ huy tàu ngầm Grayback kể: "Đợi mãi mà không thấy trực thăng thả nhóm của Dry xuống, tôi cho chiếc SDV thứ hai đi tìm". Trung sĩ Richard C. Hetzell, đi theo nhóm thứ hai kể tiếp: "Ra khỏi tàu ngầm, chúng tôi cho chiếc SDV nổi trên mặt nước và sau vài phút, chúng tôi nghe thấy tiếng máy bay trực thăng. Nhưng chẳng hiểu sao chiếc SDV bỗng dưng chìm xuống, càng lúc càng sâu". Không thể điều khiển cho nó nổi lên, 4 biệt kích quyết định bỏ mặc nó, bơi trở lại tàu ngầm.

Cũng vào lúc này, sĩ quan phụ trách radar trên chiếc Grayback báo cho Trung tá Chamberlain biết là có sự xuất hiện của một tàu tuần tra Bắc Việt Nam nên Chamberlain quyết định phá vỡ quy tắc bí mật, ông gửi đi một bức điện, gọi chiếc SDV thứ hai quay về nhưng vì nó đã chìm, và nhóm biệt kích đã bỏ tàu nên bức điện vĩnh viễn không bao giờ đến được nơi cần đến.

0 giờ 40 phút ngày 6-6-1972, Martin, Lutz, và Edwards thấy một ánh sáng nhấp nháy và có tiếng người nói. Họ bơi đến và gặp nhóm biệt kích thứ hai, lúc ấy cũng đang trôi giạt vì không tìm ra vị trí tàu ngầm Grayback. Đến 1 giờ sáng, cả hai nhóm thấy xác Trung úy Dry, nổi bập bềnh trong chiếc áo phao. Họ thay phiên nhau dìu xác Trung úy Dry đi theo họ. 7 giờ, một máy bay trực thăng của tàu Squadron HC-7 phát hiện ra họ và đưa họ về tàu tuần dương USS Long Beach.

Xác Dry cùng hai người bị thương nặng là Trung úy Lutz và binh nhất Edwards được chuyển về tàu sân bay USS Kitty Hawk. Riêng chiếc Grayback, nó quay lại vị trí cách "hòn đảo nhỏ" 3km rồi nằm im ở đó trong 2 ngày, quan sát bằng kính tiềm vọng để mong tìm ra dấu hiệu của Đại tá John Dramesi và Đại úy Ed Atterberry, hai phi công được cho là "đã trốn thoát" nhưng tất cả đều vô vọng!

9 năm đi tìm câu trả lời

Ngày 12-6-1972, tàu ngầm Grayback được lệnh rút về căn cứ Subic, Philippines. Kế hoạch "Đầu Sấm" xem như kết thúc. Cũng trong ngày này, cha mẹ của Trung úy Dry ở Mỹ nhận được tin báo của Hải quân về cái chết của con trai mình với lời giải thích "hy sinh trong một nhiệm vụ đặc biệt bí mật". 4 ngày sau đó, xác Dry được đưa về Mỹ và được chôn cất ở nghĩa trang quốc gia Arlington.

Không hài lòng với lời giải thích của Hải quân Mỹ, suốt nhiều năm, cha của Dry miệt mài tìm hiểu. Ông nói: "5 năm sau khi con trai tôi chết, Hải quân đưa ra những thông tin không chính xác về những gì đã xảy ra trên biển mặc dù họ nói họ đã mở cuộc điều tra…". Mãi đến năm 1981, một bức thư với danh nghĩa "Các sĩ quan chỉ huy tàu ngầm Grayback", gửi cho cha của Trung úy Dry. Trong thư, cái chết của Dry được kể lại đầy đủ nhưng chẳng ai nhận lỗi về phần mình.

Nhân vật cuối cùng và cũng là nhân vật chính của "Kế hoạch Đầu Sấm" là Đại tá phi công John Dramesi. Sau khi Hiệp định Paris ký kết hồi đầu năm 1973, Dramesi cùng tất cả những phi công tù binh khác được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trao trả cho phía Mỹ.

Lúc được hỏi về vụ trốn trại hồi tháng 5-1972, Dramesi tròn mắt: "Ai nói vậy? Kể từ vụ vượt ngục hồi tháng 11-1969 rồi bị bắt trở lại, tôi bị giám sát rất chặt chẽ,  mọc cánh cũng không thoát chứ trốn thế nào được…".

Cao Trí (theo History - Operation Thunderhead)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.