Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hùng Vĩ:

Thở bằng… hơi thở dân gian

Gần bốn mươi năm trước, tôi từ chiến trường K chuyển ngành về Khoa Văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, được gặp thầy Nguyễn Hùng Vĩ. Thầy dạy chúng tôi môn văn học dân gian, cụ thể là Mo Mường - trường ca Đẻ đất đẻ nước.

Giọng Nghệ Tĩnh của thầy ngân nga về sử thi này khiến tôi như yêu đất Mường, người Mường hơn. Vì 5 năm trước, tôi đã từng sống với người Mường trong những tháng huấn luyện để chuẩn bị ra biên giới Tây Nam. Thực tế không nhiều, nay lại được thầy cho đọc bộ sử thi cùng những lời phân tích, giải nghĩa... khiến vùng đất Mường ám ảnh mãi trong tôi. 

Sau này, viết tập sách kỷ niệm Một trăm ngày trước tuổi hai mươi, về những con người cụ thể như anh chủ nhà, về ngọn cỏ thao trường trên đất Mường, về nghĩa trang liệt sĩ trong bản Mường, tôi đều nhớ đến bài giảng của thầy.

1. Những năm đầu ở Khoa Văn, tôi còn được theo thầy Trần Thuyết - một bậc thầy uyên thâm về chữ Hán nhưng tôi không ngờ, thầy Vĩ cũng theo học thầy Thuyết sớm hơn, nhiều hơn. Vẫn lọ mực cầm tay với chiếc bút lá tre, nắn nót viết từng chữ Hán cổ trong nhiều năm trời. Vì thế, chúng tôi không ngạc nhiên khi đọc rất nhiều bài nghiên cứu về thơ Đường của thầy, giải thích từng chữ với nhiều nghĩa, dẫn nhiều điển tích, điển cố xác thực. Thậm chí, thầy còn khích lệ sinh viên, dựa vào Kinh Thi, sáng tác bài thơ theo nội dung mới mà người tinh lắm mới có thể nhận ra.

Có lần thầy Vĩ kể là “mình gặp may” vì khi thi vào Trường Đại học Tổng hợp, bị phân về Khoa Sử nhưng mới học 3 tháng, thấy mình thích Khoa Văn hơn nên thầy xin chuyển. Thầy Vượng phê vào đơn: “Đồng ý với điều kiện: Bước chân đi cấm kỳ trở lại”. Rồi khi ra trường, thầy được phân công dạy văn học thời kỳ Trung đại vì trong tổ Văn, có người “xí phần” rồi.  Trong khi đó, phần văn học dân gian lại đang thiếu người. Thế là thầy Vĩ chuyển về tổ này, cùng các thầy Đinh Gia Khánh, Võ Quang Nhơn...

Rồi thầy Vĩ lại kể cho tôi nghe những kỷ niệm trong những lần đi điền dã, sưu tầm và khám phá văn hóa dân gian của người Mường. Những bài hát bình dị, những kỷ vật thân thuộc cùng những lời thuyết minh không bao giờ hết của thầy như minh chứng một điều: Thầy yêu văn hóa dân gian với cả trái tim mình. Đối với văn hóa dân gian, thầy như một hiệp sĩ - nghĩa là có nghĩa vụ sưu tầm, có trách nhiệm giữ gìn và phổ biến nhưng không đòi hỏi một chút quyền lợi nào.

Và thầy nghiên cứu văn hóa dân gian cũng chỉ làm đẹp, làm giàu cho đời chứ không bao giờ dùng nó như phương tiện tiến thân hay khoe khoang danh này hiệu nọ. Bằng chứng là, dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian nhưng bằng cấp của thầy vẫn là cử nhân tốt nghiệp Khoa Văn và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy cho đến lúc nghỉ hưu.

2. Nhắc chuyện nhà nghiên cứu “khét tiếng” nhưng mới cử nhân, tôi lại nhớ đến một giai thoại về thày Trần Quốc Vượng, một người thầy mà thầy Nguyễn Hùng Vĩ từng theo học. Giai thoại thế này: Thầy Vượng thường nói với sinh viên: “Tôi - Trần Quốc Vượng, tốt nghiệp cấp 3, dạy đại học. Vợ tôi - tốt nghiệp đại học nhưng dạy cấp 3”. Giai thoại này chắc tồn tại từ hồi thầy Vượng chưa được phong giáo sư. Và thầy Vĩ theo học thầy Vượng từ năm 1984, nghĩa là sau khi ra trường.

Dạo đó, trường Tổng hợp mở lớp nghiên cứu chuyên đề “Văn hóa học”, thầy nghĩ, mình nghiên cứu văn hóa dân gian của nhiều dân tộc, cần hiểu những sắc thái làm nên tính cách, tâm hồn của họ. Trong bài giảng, thầy Vượng đưa ra nhiều ví dụ dẫn chứng trong sách của các nhà nghiên cứu về văn hóa học dân tộc học như Jeanne Cuisinier với Người Mường - địa lý nhân văn và xã hội học (1946), Claude Levi-Strauss với The Elementary Structures of Kinship (1949), Structural Anthropology (1958) và của David Mayburi - Lewis với Akwe Shavante Society (1967)...

Nghe giảng đến đâu, thầy Vĩ tỏ ra thông hiểu đến đó, thậm chí còn nêu ra những điều thầy Vượng chưa giảng. Thầy Vượng ngạc nhiên. Thầy Vĩ mới tiết lộ, những cuốn sách này mình đã đọc từ năm thứ nhất, tất nhiên là “đọc trộm”. Dạo đó, thầy Vĩ hay la cà ở nhà một người bạn cùng lớp, nằm sát thư viện trường. Ngoài hạnh phúc được bạn nấu mì cho ăn, thầy Vĩ còn mò sang thư viện, mượn những cuốn sách về dân tộc học về đọc. Đấy là loại sách in trên giấy bản, không biết ai dịch, nằm phủ bụi trên giá. Không hiểu sao, thầy Vĩ đọc rất mê mải và những kiến thức thấm vào thầy như những hạt mưa rơi xuống đất hạn.

Thấy thầy Vĩ chân thành, ham hiểu biết, thầy Vượng buông lời mời: “Ông theo tôi!”. Từ đó, thầy Vĩ hay được thầy Vượng rủ đi điền dã ở những nơi giàu có về cổ vật. Và trong mỗi cổ vật lại chứa rất nhiều thông tin về dân tộc, lịch sử, địa lý, văn hóa... Phương pháp nghiên cứu liên ngành của thầy Vượng đã ảnh hưởng tốt đến thầy Vĩ. Sau này, khi viết về những vấn đề văn hóa dân gian, thầy Vĩ thường dẫn giải đến nhưng thông tin liên quan khác về địa lý, lịch sử... Vì vậy, những bài viết của thầy sinh động, giàu sức thuyết phục.

3. Có một số người mang tiếng là nghiên cứu văn học dân gian nhưng chỉ làm mỗi việc sưu tầm... trên sách. Nghĩa là họ lấy sách nọ trộn với sách kia, cấu trúc thì sao chép cuốn Tục ngữ, ca dao, dân ca của Vũ Ngọc Phan rồi phân chia thành tập, ghi tên mình là “GS-TS” này nọ. Nhưng động đến thực tế thì im thin thít. Tôi đã chứng kiến, ở một cuộc “trà dư tửu hậu”, có một vị “GS-TS” nọ tuyên bố “một câu xanh rờn” là anh ta thuộc tất cả các câu tục ngữ.

Một người hỏi: “Ông có biết câu: “Con mày, con nuôi không bằng con b... sinh ra” nghĩa là gì không?”. Vị “GS-TS” kia lúng túng rồi rút điện thoại, giả vờ có người gọi rồi biến luôn! Thầy Vĩ giải thích, đại khái, “con mày” là “con của mày” là con riêng của vợ. Vì trước năm 1945, ở một vài nơi, người chồng vẫn thường gọi vợ là “mày”.

Với thầy Vĩ, văn hóa dân gian cần môi trường thực hành, môi trường sống động. Chẳng hạn, với nghệ thuật quan họ, suốt bốn mươi năm qua, thầy đã đi đi về về nơi này hàng trăm lần để sống, để kết duyên, để hát cùng và để sáng tác những bài quan họ mới cùng các nghệ nhân lão làng như Vũ Tự Lẫm, Nguyễn Đức Sôi...

Thầy nhiều lần dẫn hàng chục sinh viên về đây thực tập, dẫn những người bạn yêu quan họ về đây như trở về ngôi nhà thân thiết. Làn điệu quan họ dễ hát nhưng sáng tác lời mới là một công việc rất khó nhọc, công phu. Nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi sống cả đời với quan họ mới có thể viết được bài quan họ mới như Ăn ở trong rừng.

Và như ta biết, hát quan họ cần hát đối, do đó, khi thấy thầy Vĩ đắm đuối với quan họ, nghệ nhân Nguyễn Đức Sôi khích lệ thầy sáng tác bài quan họ mới, đối lại Ăn ở trong rừng. Suy nghĩ nhiều ngày, thầy Vĩ đã sáng tác bài quan họ mới Ăn ở trên thuyền - dựa vào tích Trương Chi. Cả hai bài được các liền anh, liền chị quan họ rất yêu thích. Những bài quan họ mới đều dựa vào các “tích chuyện” nên có độ bền vững.

Lại có lần thầy đến Đà Nẵng, buổi sáng, dạo chơi bên sông Hàn, thấy nhiều câu lạc bộ dưỡng sinh tập thể dục theo giai điệu nhạc Đài Loan phát ra từ chiếc radio, thầy dừng lại nghe và thắc mắc: “Tại sao không sử dụng loại nhạc dân tộc của mình?”. Thầy mang chuyện này nói với một người bạn xứ Quảng: “Tôi sẽ cải biên những làn điệu của hò hụi Quảng Nam thành bài tập dưỡng sinh cho các cụ bô lão Đà Nẵng”. Người bạn này tán thành ngay.

Và trong những ngày ở Đà Nẵng, thầy Vĩ đã cải biên hò hụi xứ Quảng thành giai điệu cho các cụ tập thể dục dưỡng sinh. Và họ rất thích. Thầy lý giải: “Nhịp điệu và tiết tấu của những bài hò hụi xứ Quảng thường rất mạnh mẽ. Nó thể hiện nhịp điệu lao động của những con người nơi đây, rất chân thực và nhiệt thành chứ không ủy mị. Chỉ cần cải biên một chút, những làn điệu ấy không những hay không kém những bản nhạc ngoại quốc mà còn gần gũi với tâm hồn con người xứ Quảng”.

Nhớ lần đi điền dã ở huyện Minh Hóa (Quảng Bình), thầy Vĩ bị mê hoặc bởi làn điệu hò thuốc cá của các dân tộc nơi đây. Các tộc người như người Rục, người Chứt, người Nguồn... đều mang khí chất rừng núi cũng như tâm hồn họ ẩn giấu nhiều kho báu văn hóa dân gian, trong đó có điệu hò thuốc cá. Thuốc cá có nghĩa là bắt cá. Để bắt cá, họ hái một loại rễ cây “tèng” trộn với bùn, rồi ủ kín, đốt lửa xung quanh. Khi bắt cá, họ mang rễ cây tèng ra suối, ra hồ, thả xuống nước.

Rễ cây tèng hòa trong nước, làm xót mắt cá. Chúng nổi lên và cứ thế dân làng ùa xuống bắt. Lúc vừa thả, vừa giã, vừa đập, vừa lùa cá vào lưới, dân làng vừa đồng thanh hò thuốc cá. Nhịp điệu của bài hò vừa mạnh mẽ, vừa nhanh, rất hợp với nhịp điệu của các động tác bắt cá tập thể. Cả một vùng núi rừng yên ắng bỗng vang lên tiếng đồng ca khỏe mạnh của hàng chục nam nữ, tạm dịch nghĩa tiếng Việt: “Đập tèng thì đập cho sòng/ Để cho cá chết đầy sông đầy bờ/ Đập tèng thì đập cho sòng/ Để khi chia cá nhớ công đập tèng”.

Tôi chợt nhớ những ngày tết Chol Chnam Thmay của người Khmer. Họ cũng vào rừng bắt cá nhưng dụng cụ của họ là những trái mã tiền. Họ đập ra, giã nhỏ, thả xuống nước. Cá ăn bị say, từ từ nổi lên. Và họ buông lưới bắt. Hàng chục người dân, từ trẻ nhỏ đến người già, vừa bắt cá vừa hát những ca khúc dân gian rộn rã. Bộ đội Việt Nam cũng được dân làng chia cá, chúng tôi phải mang võng đến khiêng về. Khi người dân và thiên nhiên chung sống hài hòa với nhau, tất sinh ra những bài ca lao động mang đầy vẻ đẹp.

Tôi băn khoăn, thầy đi điền dã như vậy, lấy kinh phí từ đâu? Thầy hồn nhiên cười: “Dân họ nuôi mình cả đấy. Mình ở với dân, ăn cơm, uống nước nhà dân thì mình trả nghĩa cho dân. Những việc gì có ích cho dân thì mình không nề hà”. Tôi hiểu, nhờ đi điền dã nên thầy có một khối kiến thức, khối lý thuyết về văn hóa học.

Mới đây, tôi gặp khi thầy vừa cùng đoàn phim tài liệu Hò khoan Lệ Thủy của đạo diễn Nguyễn Văn Kiểm từ Quảng Bình trở về. Từ những chuyến đi này, thầy còn viết nhiều lời mới cho điệu hò lễ hội đua thuyền trên sông Kiến Giang; dựng kịch cho đoàn nghệ thuật địa phương diễn về người anh hùng, huyền thoại Đại tướng Võ Nguyên Giáp bất tử của quê hương Lệ Thủy.

Qua những lần trò chuyện, thầy chỉ nhận mình là người thực hành văn hóa dân gian. Và thầy lựa chọn con đường mình đi, là chơi hết mình với văn hóa dân gian. Chơi một cách tận cùng như chính mình được sống, được thở là từ hơi thở của văn hóa dân  gian. Đến nay, hàng ngàn trang sách thầy viết nhưng chỉ in rải rác trong các báo, tạp chí.

Nhiều học trò muốn in thành sách, thầy cảm ơn và nói; “Mình còn trẻ, còn đi nhiều nơi vì nhiều nguồn văn hóa bản địa còn cần khám phá nữa. Nó là mạch nguồn nuôi dưỡng đời sống tinh thần, tình cảm của người Việt”. Và cho đến nay, thầy vẫn như nguồn cảm hứng, vẫy gọi nhiều học trò tiếp tục khám phá cội nguồn từ lời ăn tiếng nói dân gian...

Đoàn Tuấn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.