Thi sĩ Trần Quốc Thực ở miền cỏ ướt

Thoắt cái nhà thơ Trần Quốc Thực đã từ giã cõi nhân gian đúng 10 năm. Vừa bước qua tuổi 60, anh lặng lẽ chuồi vào hư vô như một thoảng gió mong manh.

Thật khó hình dung về nhà thơ Trần Quốc Thực, ngoài một dáng vóc triền miên ốm o và một đôi mắt xoe tròn âu lo. Đã 10 năm, không có nhà thơ Trần Quốc Thực ở chốn đua chen bận bịu nữa, mới thấy rằng tác phẩm của anh đã nối dài thêm cho cuộc đời anh rất nhiều lần. Hôm nay, ngày mai và có thể còn rất lâu nữa, công chúng vẫn nhắc đến thơ Trần Quốc Thực!

Nhà thơ Trần Quốc Thực từng trải qua nhiều công việc, từ thanh niên xung phong phục vụ trong quân đội cho đến thợ chụp ảnh tại Phủ Lý, rồi làm biên tập thơ Báo Văn nghệ. Nhà thơ Trần Quốc Thực từng trải qua hai đời vợ, người vợ đầu là giáo viên văn ở Hà Nam đã gồng gánh nồi niêu đưa chồng đi học Trường Viết văn Nguyễn Du, người vợ hai là một nhà thơ ở thủ đô đã nếm trải cùng chồng không ít nhọc nhằn.

Tuổi thơ mồ côi gian khó cộng với bao nhiêu tháng ngày lầm lũi gian nan, thơ Trần Quốc Thực như những vệt sáng lóe qua số phận anh và nâng đỡ cho số phận anh. Ba câu chuyện liên tục trở đi trở lại trong thơ Trần Quốc Thực, đó là tri ân mẹ, tạ lỗi vợ và xa vắng con.

Thuở hai mươi, Trần Quốc Thực bắt đầu đến với thi ca. Những câu thơ đầu tiên viết về người anh liệt sĩ: “Năm tháng bay trên nấm mộ xanh lơ/ Giọng lúa ngân nga bài ca năm tấn/ Sông núi vang vang từng hồi trống trận/ Từ đất anh nằm quân đi quân đi” và tình yêu lứa đôi chan hòa trong tình yêu Tổ quốc: “Khuôn mặt em đặt trên vai anh/ Em yêu ơi, mình ở trong mình/ Mình ở trong bạn bè, mình ở trong đất nước/ Nếu mai đây em có rời bờ vai anh để ngả sang bờ vai khác/ Anh chịu gánh một phần khoảng trời biếc không em”.

Tạng người của nhà thơ Trần Quốc Thực hầu như không có khả năng chống đỡ bất kỳ sóng gió nào của thời cuộc. Từ bước chân đến tâm hồn của Trần Quốc Thực đều chực nghiêng về đổ vỡ và đắng cay. Trần Quốc Thực tồn tại bằng sự bơ vơ và sự cô độc. Anh chỉ có thể là anh, khi ngồi một mình để thả hồn vào mông lung vô tận.

Thi sĩ Trần Quốc Thực.
Thi sĩ Trần Quốc Thực.

Phải chăng đó là sự Nhập định mà anh luôn khao khát: “Có thể ngồi trước tách trà, có thể trước cốc rượu/ Dẫu sao, phải được ngồi trước mình/ Ngồi trước nỗi vắng xa trái tim ta tan nắng gió/ Ngồi trước thời gian nín thinh”. Và đó cũng là chốn riêng để Trần Quốc Thực tìm đến sáng tạo đau đớn và xót xa: “Tôi ngồi trước nến, như đối diện một chân kinh”.

Quãng thời gian đắm đuối với thơ của Trần Quốc Thực kéo dài khoảng 40 năm, được chưng cất qua bốn tập thơ Miền chờ, Nét khắc, Trái tim hoa bìm và Tháp cúc. Năm 2015, con gái của nhà thơ Trần Quốc Thực là Trần Yến Châu đã chọn lọc và giới thiệu tuyển thơ Trần Quốc Thực có tên gọi Cỏ ướt.

Một tên gọi nghe như nước mắt sắp tuôn, rất phù hợp với phong cách nhà thơ Trần Quốc Thực, dù góc nhìn xa: “Sông Hồng nặng nhọc phù sa đỏ/ Đôi bờ xanh phiêu diêu”, dù tâm sự gần: “Không đậu vào chén/ Nắng đứng ngoài thềm/ Mời đến líu lưỡi/ Nắng mới nghiêng nghiêng” hoặc dù đắm say bất chợt: “Đêm không trọn một bề/ Mảnh trăng vàng thốt hiện/ Cắm nghiêng nghiêng vào khuya”.

Hình ảnh người mẹ tảo tần vùng chiêm trũng trở thành nguồn cảm hứng lớn lao nhất trong thơ Trần Quốc Thực. Người mẹ ấy bôn ba trong đời sống vật chất: “Mẹ ơi, áo mẹ mười năm nắng/ Tóc mẹ phơ phơ dáng lặng thầm. Mẹ ơi tay mẹ mười năm trắng/ Chân mẹ mười năm mưa nắng ngâm” và bôn ba cả trong đời sống tinh thần: “Mẹ tháng ngày chăm ba bát nhang/ Bát thứ nhất: mẹ thờ Trời Đất/ Bát thứ hai: gia tiên nhà chồng/ Bát thứ ba: bố và anh con… Người đã khuất trở về thơm ngát/ Trên bát nhang tháng ngày mẹ thắp/ Vùng hương, từ tay mẹ gầy gùa/ Dâng dâng như rút tự nắng mưa/ Sương gió một triền sông hun hút”.

Trước tình mẹ rộng lớn, một nhà thơ như Trần Quốc Thực không biết cách gì báo hiếu. Vì vậy, tiếng gọi mẹ ơi cứ ngân dằng dặc và khắc khoải trong thơ anh: “Mẹ ơi/ Khi con viết được câu thơ thứ nhất dâng mẹ/ Mẹ nói: không nuôi nổi người/ Khi con viết được câu thơ thứ hai dâng mẹ/ Mẹ nói: túp lều này, mẹ con mình thôi/ Khi con viết được câu thơ thứ ba thì mẹ lẫn…/ Mẹ ơi/ Khi con dắt mẹ đi trong thị xã/ Mẹ không đi bằng bàn tay con, mẹ đi bằng ký ức của mẹ/ Mẹ đi bằng thời gian xa, ra triền sông phơi phấn/ Mẹ đi bằng thời gian gần, lên đầu dốc ngóng con/ Bây giờ, chiến tranh kết thúc đã lâu/ Con chưa kịp về chăm nom mẹ/ Mẹ đã như người trong mê sâu…”.

Nhớ đến mẹ, nghĩ về mẹ, nỗi lòng Trần Quốc Thực gửi vào lời nguyện cầu: “Chắp tay ta vái mười phương chư Phật/ Ban xuống mẹ hiền một chút thong dong”.

Mẹ đã mất, khoảng trống không thể nào bù đắp được. Thế nhưng, Trần Quốc Thực vẫn tin rằng mình có thể giao tiếp với mẹ bằng Thần cảm đích thực: “Mẹ ơi, âm dương cũng nhà ta/ Ai làm mẹ đau, con từ mặt/ Mẹ ơi âm dương không chia xa/ Thỉnh thoảng mẹ về, con đỡ khuyết…”.

Đối với Trần Quốc Thực, miền thơ cho mẹ vẫn còn mãi, vì những ngày nằm bên mẹ như nằm bên sông lành, và vì ân hận chỉ tắm được cho mẹ hai lần, một lần vào ngày mẹ qua đời và một lần vào ngày cải táng mẹ: “Mẹ tắm cho ta bao nhiêu lần mà ta chỉ được hai lần tắm mẹ/ Một lần đưa mẹ về với lúa. Lần sau rước mẹ sang nhà mới/ Nỗi nhớ này niềm sông này duy nhất trong một đời người”.

Sự day dứt thứ hai trong thơ Trần Quốc Thực là bóng dáng người đàn bà âm thầm gánh vác: “Anh đến được em rồi/ Mệt quá! Và anh nằm như một đứa trẻ con/ Chân tay anh khuềnh khoàng/ Trong veo khuôn mặt”. Trần Quốc Thực yêu kiểu thi sĩ, vừa yếu đuối vừa bi lụy, từ cảnh vật lúc yêu: “Chúng mình hay xa nhau/ Đến mức/ Khi thương/ Anh thiếu vạt áo em để cầm/ Khi nhớ/ Em thiếu miền ngực anh để khóc/ Em đi, sương nắng khuất/ Những đồi hoa in gót chân xa” đến trạng thái khi yêu: “Chúng ta đi bên nhau líu ríu/ Như đôi chim đất đi trong đường hoa mùa đông/ Đi bình tĩnh, tự tin, không hề biết/ Máu đỏ quật lên tim làm bạc xóa tóc anh…”.

Tập thơ "Cỏ ướt" của thi sĩ Trần Quốc Thực.
Tập thơ "Cỏ ướt" của thi sĩ Trần Quốc Thực.

Yêu kiểu thi sĩ, thì tình nhân trước mặt cũng khó giữ như trăng nước khơi xa. Giữa phút giây mặn nồng thì Trần Quốc Thực đã cảm nhận được: “Em ngồi đó tôi ngồi đây/ Giữa hai ta một quãng đầy cách nhau/ Giữa hai ta khoảng trời cao/ Một hôm nở đóa chiêm bao giữa chừng” nên sự chia lìa được nhận diện đúng ám ảnh của ảo giác: “Em xa quá… xa đến mức ngày trời xanh lại/ Dãy phố dài mảnh khảnh cuối trời/ Dưới hàng cây cơm nguội/ Một người xe thong thả đạp trong cây”.

Yêu kiểu thi sĩ, thì cuối cùng Trần Quốc Thực chỉ còn lại ngậm ngùi lẻ loi: “Em vắng trọn ngày không gặp mặt/ Đường hoang vắng nắng vườn không hoa/ Mắt vắng nỗi chi đêm vắng khép/ Nằm vẽ lên màn dáng vắng xa”. Bốn câu thơ trên nửa thực nửa hư, đi từ thực đến hư, rồi từ hư đến thực. 

Và nhà thơ Trần Quốc Thực chấp nhận sự an bài lạnh lẽo ấy như một lẽ cơ cầu: “Anh ngồi trong đủ một ngày/ Ngắm đất ngắm trời ngắm cây ngắm cỏ/ Cây cỏ thì xanh, đất bãi thì nâu/ Bầu trời thì xa, em còn xa nữa/ Ước gì đang đứng giữa sân nhà mình/ Ước gì đang ngồi bên chiếc bàn thân thuộc/ Ước gì được soi mắt em đang buồn/ Ước gì được cầm bày tay em đang hao mòn…”.

Chủ đề thứ ba gây xúc động mạnh mẽ trong thơ Trần Quốc Thực là câu chuyện đứa con sau khi bố mẹ đường ai nấy đi: “Con sinh phải cái thời mà các bậc bố mẹ rất hay chia tay nhau/ Rồi thời gian sẽ nhuốm lên khuôn mặt con vẻ thất thoát, nét u buồn”. 

Trần Quốc Thực thừa hiểu mình không đủ khả năng chăm sóc con, nhưng vẫn bồn chồn viết cho con trong đêm chợt thức: “Mùa xuân đến cho con thêm tuổi/ Bao nhiêu chiêm bao về thăm con/ Có chiêm bao nào mang bố?”.

Nhà thơ Trần Quốc Thực dư thừa sự nhạy cảm, chỉ cần anh viết lại giấc mơ của mình về con đã thành bài thơ: “Bố ơi!/ Gì thế con?/ Đêm qua bà nội về chơi với con/ Bà có dặn gì con không?/ Có! Bà bảo: Buổi sáng phải thơm bố…/ Con gái ơi!/ Tỉnh dậy, chiếc hôn của con/ Còn ướt một bên gối bố”

Thế nhưng, với bài thơ Sân trường nghiêng thì Trần Quốc Thực bằng những rung động sâu xa đã khái quát tình yêu người cha với đứa con thơ dại mà mình ít có dịp được gần gũi: “Con ơi, bố biết mọi cuộc chia tay Trời đều định trước/ Bố tự nguyện lùi rất xa để mẹ được toàn quyền về con/ Bố lặng lẽ đến trường con học để được nhìn con từ rất xa/ Nhìn con rất gần rồi bố gọi/ Con ào đến bố một lúc rồi chạy ra chơi với bạn bè/ Con chơi với sân trường/ Cái sân trường cứ nghiêng nghiêng thế nào ấy trong mắt bố/ Sân trường cứ nghiêng nghiêng mà bố không dám hỏi vì sao...”.

Cái hay của thơ Trần Quốc Thực là nhìn toàn bộ sự vật bằng cảm giác, rồi dùng hình ảnh để thi vị hóa cảm giác ấy. Chẳng hạn, một lần Tiễn ấm áp tình nghĩa: “Bạn đi nhé, thôi không tiễn nữa/ Một tay nâng chén đắng ngang mày/ Bạn đi nhé, thôi không giấu nữa/ Một tay còn bận giấu khăn tay…/ Tiễn nhau một bận qua bậu cửa/ Tiễn nhau lần nữa trong chiêm bao/ Xa ngoắc ngõ xanh bạn biến khuất/ Tôi đã gói khăn ở kiếp nào”

hoặc một lần Đề sau bức ảnh ngẫu hứng dạt dào: “Nhờ gió mà đường cong áo em đã khiến anh thật lòng thán phục/ Nhờ gió mà trời xanh hoàn thành xuất sắc công việc tạo em trước trùng khơi/ Nhờ gió mà năm châu được chiêm ngưỡng sắc đẹp người con gái Việt/ Anh phải kết thân với biển vì biển luôn cất tiếng gọi em/ Kết thân với trời xanh vì trời xanh đã ghi khắc em/ Và anh phải đứng giữa sóng và cát/ Để ngăn ngừa sự giành giật nhau những dấu chân em”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.