Thi sĩ Trần Nhuận Minh với những câu thơ mỏng tựa cánh chuồn

Ở đời, có những người gặp không ít thuận lợi vì có quan hệ thân thích với người nổi tiếng nhưng, trường hợp Trần Nhuận Minh thì không hẳn như vậy. Trần Nhuận Minh hơi thiệt thòi khi có một người em được mệnh danh “thần đồng”.

Chính vì thói quen giới thiệu “anh ruột của Trần Đăng Khoa” mà ít ai nhận diện đầy đủ Trần Nhuận Minh thực sự là một gương mặt không thể không nhắc đến trong nền thơ Việt Nam hôm nay.

Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn - Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trần Nhuận Minh chọn Quảng Ninh làm đất lập nghiệp. Ông dạy học, viết lách rồi làm quản lý văn nghệ. 

Ông tự “trình bày” bản thân:“Bạn ơi, tôi có hai lá phổi/ Một ở làng Điền Trì, mùa thu nước nổi/ Một nửa là phố mỏ Hồng Gai quanh năm rừng rực nắng trời/ Giữa hai lá phổi lành, đây, trái tim tôi”. Trần Nhuận Minh lấy cột mốc đổi mới đất nước để chia hai sự nghiệp thơ mình.

Giai đoạn đầu, từ năm 1960 đến năm 1985, ông gọi là “gửi lại dọc đường” với những bài thơ thật thà ghi nhận đời sống như Làm thủy lợi ở Giáp Khẩu, Khúc hát riêng của những người đào đất hoặc Cô thợ hàn trên khung nhà cao tầng.

Thậm chí, sản lượng pháp lệnh 4 triệu tấn than sạch mà công nhân mỏ phải sản xuất năm 1975 cũng khiến ông cầm bút viết một bài thơ. Bây giờ đọc lại, độc giả có thể có những đánh giá khác nhau nhưng đối với ông thì “câu thơ như ở thời trong trẻo, chưa từng khóc mướn vỗ tay thuê”.

Có lẽ, như một cơ duyên, sau bài thơ Nhà thơ áp tải viết tặng Thanh Tùng với tâm niệm “Hãy áp tải sự thật/ đến những bến cuối cùng” vào mùa thu năm 1986, thơ Trần Nhuận Minh biến chuyển sang một giai đoạn khác, gai góc hơn, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn.

Chân dung Trần Nhuận Minh.
Chân dung Trần Nhuận Minh.

Nhiều bài thơ tình của Trần Nhuận Minh cũng lóng lánh: “Cây cỏ vô tình nhuốm nỗi dở dang em/ Gió thổi suốt đêm trăng mười bảy tuổi/ Em ở đâu đây? Trời dịu dàng bối rối/ Thả vào hồn ta giọt sương cũ đầm đìa”, cũng lả lơi: “Giao thừa đi như cô gái chưa chồng/ Đẹp nức nở những muộn mằn đắng chát/ Ta ở đâu giữa mùa xưa xanh ngát/ Má trăng mờ run rẩy dấu môi hôn” nhưng lại không có dấu ấn cá biệt, dễ lẫn trong hàng triệu vần điệu du dương đang làm nghẹt thở người yêu thơ nước ta. 

Trần Nhuận Minh chỉ chứng minh được giá trị nhà thơ khi trực tiếp nhúng bút vào dòng chảy thế sự.

Nhiều bài thơ của Trần Nhuận Minh như những tiếng kêu thảng thốt, chối từ mọi mỹ từ đẩy đưa, mà tác giả khao khát: “Những câu thơ mỏng tựa cánh chuồn/ Ngàn năm bay ngược bão/ Mang sấm sét của những vùng chưa qua/ Mang ánh trăng của những thời chưa tới”.

Xung đột đau đớn nhất và nghiệt ngã nhất đối với một nhà thơ, ấy là khoảnh khắc nhận ra thi ca bất lực trước ước vọng bênh vực phẩm giá con người. Câu chữ sẽ trở thành vô nghĩa nếu nhà thơ đứng ngoài run rủi nhân sinh.

Trần Nhuận Minh nhìn quanh những Thím Hai Vui, Dì Nga, Cháu Thủy, Mợ Hữu lấm láp và bất hạnh, rồi bần thần “hàng mất giá cũng đua nhau lên giá/ đồng lương hưu như một nỗi vu vơ” trong nỗi ngổn ngang “lòng băn khoăn không dứt/ bỗng thèm một chén trà/ cuối trời tia nắng quái/ cháy kinh hoàng sau ta”.

Và hình ảnh nhà thơ Trần Nhuận Minh bắt đầu rõ nét dần. Ông không còn chờ hứng khởi gió mây đến với bàn viết, mà ông tình nguyện mang thơ nhập vào đời sống. 

Bên đường, ông nhìn thấy người thợ lò nghẹn ngào nền kinh tế bao cấp “Chẳng còn biết phải làm gì thêm nữa/ Anh giơ cao những tín phiếu dấu son/ Chợ vắng dần... Chỉ còn mình anh đứng/ Như biểu tượng một thời của cả nước non”.

Chứng kiến một đứa trẻ bị đánh tàn nhẫn vì ăn cắp vặt, ông phải viết Bài thơ không định viết nặng trĩu âu lo: “Giành một miếng ăn mà bị xử đến mức này/ Với trẻ con, sao các người ác thế/ Không ai vô can khi một em bé/ Đến ngày hôm nay vẫn còn đói bánh mì”.

Đọc những bài thơ chất phác như những câu chuyện kể, sẽ có người băn khoăn về năng lực thẩm mỹ của Trần Nhuận Minh.

Chẳng có gì ái ngại cả, Trần Nhuận Minh thừa ngôn ngữ để viết những câu rộn ràng như: “Sông Lô đi qua đêm như một kẻ giết người/ Lặng lẽ bông lau rừng thả hồn vào mây trắng” nhưng ông hiểu sâu sắc rằng thi ca đang cần cho một điều thầm kín hơn mà cũng cao cả hơn: “Muốn khóc thì cứ khóc/ Thích cười thì được cười/ Vì điều đơn giản ấy/ Máu bây giờ vẫn rơi”.

Vì vậy, Trần Nhuận Minh buông sự đời hối hả xuống trang giấy như một minh chứng thuyết phục nhất cho ý niệm, nhà thơ không có một nhiệm vụ nào khác là góp phần hóa giải nỗi đau của thời đại mình. 

Ông ngơ ngác Nhớ một đảng viên trong cải cách ruộng đất bằng sớt chia nhói buốt: “Những nông dân vừa được anh giải phóng/ Đã lôi anh đến cạnh thùng vôi/ Họ bắn anh/ Nhưng không bắn trúng/ Tay họ chỉ quen cầm cuốc thôi/ Nhát cuốc đầu tiên/ Mặt nhòe máu tươi/ Phút hiểm nguy vẫn tin vào cách mạng/ Anh kêu lên/ Tiếng kêu đứt quãng: Các đồng chí ơi!”.

Ông bùi ngùi Canh khuya trước một cô gái sa chân dưới đáy xã hội bằng nỗi cảm thông đắng đót: “Anh hãy ít ra là cầm lấy tay em/ Để em nhận tiền mà không hổ thẹn/ Trăng Hạ Long chẳng bao giờ có bến/ Rượu Hồng Gai uống mãi cũng không say”.

Thế nhưng, nếu Trần Nhuận Minh đơn thuần ghi chép nhân tình thế thái thì bạn đọc chỉ thấy những bóng người liêu xiêu bước qua kiếp phận mong manh. Trần Nhuận Minh biết cách khái quát nỗi hắt hiu bật dậy một vùng thổn thức.

Nhân chuyện Cụ Chiến tiễn cháu gái đi giúp việc gia đình ở nước ngoài, ông đúc kết được bốn câu như xát muối vào sự dửng dưng của những người vô tâm trong cuộc chuyển biến nhọc nhằn hội nhập quốc tế: “Tập ăn thừa dưới bếp/ Tập khóc chẳng ai hay/ Bài học thời mất nước/ Ai ngờ dùng hôm nay”.

Chưa biết có ai đã từng khóc vì thơ Trần Nhuận Minh không, nhưng có thể hình dung được phương pháp ứng xử của ông trước những giọt nước mắt. Thay vì ngắm nghía và ngợi ca những giọt nước mắt của đồng loại, Trần Nhuận Minh ngồi bần thần để nghe những giọt nước mắt ấy rơi trên chính khuôn mặt mình.

Nhờ sự đa đoan thi sĩ, Trần Nhuận Minh nhìn thấu mọi lát cắt bộn bề, một đằng: "Người đàn bà ấy bán hàng rong để nuôi đứa con què/ Xin đừng phạt tiền, đừng tịch thu quang gánh/ Bạn có nghe thấy chăng? Tiếng nói của Ông Trời, thường thăm thẳm cất lên/ Ở giọt mồ hôi kẻ khốn cùng để làm ra miếng bánh”, còn một đằng: “Trời cho nhan sắc hơn người/ Chị tôi cùng thủ trưởng tôi, cặp bồ/ Khi xoắn xuýt, lúc hững hờ/ Người nhàu váy ngắn, kẻ trơ thân gầy/ Chị tôi đi Nhật, đi Tây/ Muốn cái gì cũng được ngay cái gì/ Cơ quan cứ thế mà suy/ Trong thì chán nản, ngoài thì kêu ca”.

Dằn vặt vì thị phi, Trần Nhuận Minh không đay đả ai cũng không oán hận gì, chỉ giải bày giữa thưa vắng tri âm: “Những bông hoa lộng lẫy nhất trần gian/ Đều tự tử âm thầm trong đêm vắng/ Cứ có nước là cá tự sinh ra/ Ao hồ rộn vang tiếng quẫy đạp sinh đẻ/ Buồn và vui, mặt đất vẫn vô tình/ Tôi không hiểu vì sao...”.

Trần Nhuận Minh đồng hành cùng đất nước đổi mới bằng những tập thơ ngổn ngang thế sự mà độc giả có thể nhớ tên như Nhà thơ và hoa cỏ, Bản Xô-nát hoang dã, 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh hay Miền dân gian mây trắng.

Cuộc sống hiện đại đang thờ ơ hơn với mất mát và thua thiệt của từng con người nhỏ bé, Trần Nhuận Minh thở dài quạnh quẽ nhận ra: “Khi hai bờ xa nối được với nhau bằng một cây cầu/ Thì hồn vía con sông hoàn toàn đổi khác/ Tiếng giận hờn bên này, sự lạnh lùng bên kia, đều lẫn sang nhau/ Con sông mất giới tính/ Chảy miên man về phía cuối chân trời” nhưng ông vẫn thành tâm: “Ta giáng sinh vào tâm hồn của cây/ Cho màu thu hiu hiu buồn trong lá/ Ta giáng sinh vào trí tuệ của đất/ Để đêm xuân râm ran tiếng côn trùng”.

Cứ thế, Trần Nhuận Minh lững thững khuân vác trái tim nhà thơ kĩu kịt bước lênh đênh đi tìm vẻ đẹp lương tri đang có nguy cơ bị lãng quên: “Mọi đặc quyền đều xúc phạm nhân dân/ Và bất công như quả bóng lăn tròn/ Từ chân người này sang chân người khác/ Im lặng là vàng ư? Im lặng là tội ác”. 

Trần Nhuận Minh tự nhủ nhà thơ không có quyền ngoảnh đầu quay lưng trước bất an: “Luôn lo xa, họa vẫn cứ đến gần/ Kẻ hiểm ác thường có khuôn mặt đẹp/ Ngọn lưỡi ngọt như dao thì sợ hơn dao/ Trí khôn bây giờ nằm trong các hầu bao”.

Nhịp sống hối hả đang tước đoạt những điều kiện cần thiết để chúng ta nghiêm túc trân trọng những nhà thơ vẫn nỗ lực gióng chuông cảnh tỉnh tâm thức bối rối của kinh tế thị trường. 

Trần Nhuận Minh không cô độc với hành trang khắc khoải, bởi những câu thơ sốt ruột của ông đang nâng tầm vóc lương thiện cho thi ca lên khỏi sự hờ hững của độc giả hiện đại: “Nơi này có người bị đẩy lên giàn lửa/ Chỗ kia có người bị xô xuống vực sâu/ Ở đâu cũng có người bị lăng nhục…/ Vị anh hùng ơi! Thế gian chẳng bình yên/ Dù mỗi sớm tiếng chim trời vẫn hót.../ Sức mạnh của kẻ hèn, ý chí của bóng đêm/ Vẫn mai phục dưới những chùm quả chín/ Kẻ ác đôi khi làm việc thiện/ Đánh thuốc độc cả tiếng cười/ Đóng dấu thật vào những hồ sơ giả/ Và bước lên trong ánh hào quang”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.