Thi sĩ Trần Đăng Khoa: Rời xa danh hiệu thần đồng thơ như thế nào?

Thi sĩ Trần Đăng Khoa năm nay tròn 60 tuổi. Qua một hoa giáp mà đã có nửa thế kỷ xuôi ngược trên văn đàn như Trần Đăng Khoa cũng là trường hợp hiếm hoi của nhân loại.

Tuy nhiên, ngoài mảng văn xuôi hóm hỉnh với  “Đảo chìm” hoặc “Chân dung & Đối thoại”, thi sĩ Trần Đăng Khoa còn là một công chức từng có vị trí lãnh đạo tại Đài Tiếng nói Việt Nam và đương nhiệm Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Tư cách thần đồng và vai trò cán bộ được dung hòa ở Trần Đăng Khoa ra sao?

Nếu có dịp đi qua xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, người yêu thơ ngắm nhìn những bờ ruộng nhấp nhô, những mái nhà thấp thoáng, những hàng tre lập lòa trong bóng chiều nhập nhoạng của một miền quê nghèo thì không thể không tự hỏi: Tại sao nơi này có thể sinh ra được một thần đồng thơ nhỉ? 

Quê nhà bé bỏng của Trần Đăng Khoa chẳng khác chi những vùng đất lam lũ dọc theo đất nước ta, chứ có phải địa linh gì đâu để nung nấu khát vọng nhân kiệt? 

Không thể giải thích bằng tư duy hợp lý thì đành tự trả lời theo tâm linh đưa đẩy: Biết đâu năm 1958, Thượng Đế nhàn rỗi đã tản bộ qua đây và rải chút ít bụi thơ xuống bờ bãi sông Kinh Thầy, đúng cái ngày bà mẹ hữu duyên trở dạ sinh ra Trần Đăng Khoa!

Từ khi Xuân Diệu nhón bút viết lời giới thiệu cho tập thơ Góc sân và khoảng trời in lần đầu tiên với số lượng 5 vạn bản, Trần Đăng Khoa đã phải mang vác một cái bóng lồng lộng trên mỗi bước đi chậm chạp. 

66 bài thơ trong tác phẩm đầu tay, được Trần Đăng Khoa dán cái nhãn “Made in thần đồng” bay khắp hang cùng ngõ hẻm của đất nước Việt Nam những năm cuối cuộc chiến tranh chống Mỹ và những năm đầu thống nhất giang sơn. 

Trần Đăng Khoa như một chú chim non cất cao chất giọng đặc sản nông thôn Bắc bộ, líu lo bài ca đặc sản phù sa Bắc bộ “Hạt gạo làng ta/ Có bão tháng Bảy/ Có mưa tháng Ba/ Giọt mồ hôi sa/ Những trưa tháng Sáu/ Nước như ai nấu/ Chết cả cá cờ/ Cua ngoi lên bờ/ Mẹ em xuống cấy...”. 

Đây không phải là bài thơ dành cho bàn luận hay dở, mà là tác phẩm gồng gánh sứ mệnh một cậu bé có tài thơ được chọn để nói hộ hàng ngàn trẻ em mong mỏi cuộc sống thanh bình. 

Những câu thơ trên giống như hát đồng dao, lịch sử đã chọn Trần Đăng Khoa làm ca sĩ chính. Sự xuất hiện của nhạc sĩ Trần Viết Bính chắp cánh cho Hạt gạo làng ta cũng chỉ là tình cờ. 

Không có Trần Viết Bính thì sẽ có nhạc sĩ khác và bài thơ này vẫn lưu danh vì được hỗ trợ yếu tố thời điểm cực kỳ quan trọng! Bây giờ cũng có thể có đứa trẻ 11 tuổi viết được những câu như Hạt gạo làng ta nhưng mãi mãi không thể có “hạt vàng làng ta” thứ hai!

Chỉ cần Hạt gạo làng ta thì Trần Đăng Khoa đã có thể ở lại với văn học sử. Thế nhưng, tài thơ của Trần Đăng Khoa lớn hơn phong trào “em vui em hát”. 

Mẹ ốm Cơn dông là hai bài thơ đủ để người lớn yêu thơ phải ngả mũ chào cậu bé sinh ngày 24-4-1958 vừa rửa sạch đôi tay lấm lem bùn ở cái ao làng Đông Thôn. Với sự khôn lanh ngày càng nảy nở qua từng thế hệ trẻ con, không ít bài thơ trong Góc sân và khoảng trời đang và sẽ bị rơi rụng dần. 

Thế nhưng, những đứa trẻ làm thơ nối tiếp như Khánh Chi, Phan Tuy An hay Đặng Chân Nhân không thể nào “tiếm ngôi” Trần Đăng Khoa vì anh có lá bùa mười bốn chữ “Ngoài thềm rơi chiếc lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” mà một Đêm Côn Sơn hạnh ngộ “như hồn Nguyễn Trãi năm nào về thăm” đã gửi tặng món quà không bao giờ được nhận lần nữa!

Với bản tính tinh nhạy, Trần Đăng Khoa sớm ngộ ra chất giọng đặc sản bản thân đang sở hữu, chỉ phù hợp với vần điệu trẻ con, còn thế giới người lớn đòi hỏi những cung bậc khác. Anh cúi xuống nhìn hình dong mình thì thấy cái áo trẻ con ngày càng chật chội mà ngẩng đầu lên thì thấy cái bóng thần đồng vẫn lồng lộng. 

Trần Đăng Khoa quyết định đột phá khỏi chiều kích thiếu nhi bằng những cơn vùng vẫy trường ca. Cuộc Đi đánh thần hạn không thành công, còn cuộc điểm danh Làng quê chỉ thấy chen lấn những câu binh nhất, binh nhì mà vắng bặt những câu cấp tướng, cấp tá. 

Từ biệt hai trường ca xa xót ấy, Trần Đăng Khoa 16 tuổi cởi phăng cái áo trẻ con và mượn tạm vài cái áo người lớn để khoác lên mình, dồn lực dồn chí lao vào trận “tổng tiến công” có ý nghĩa một phen cá vượt vũ môn. 

Hơi đáng tiếc, dù dùng thơ Tố Hữu, thơ Nguyễn Đình Thi, thơ Xuân Diệu, thơ Chế Lan Viên và thơ ca Xôviết Nghệ Tĩnh để khởi động náo nức cho mỗi chương, thì trường ca Khúc hát người anh hùng chỉ còn lại bùi ngùi hai câu ấm áp lòng người: “Mái gianh ơi hỡi mái gianh/ Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương”.

Mùa xuân năm 1975 là cột mốc của dân tộc, cũng là một cột mốc để đánh giá thơ Trần Đăng Khoa. Bởi lẽ những bài thơ dù dài dù ngắn của Trần Đăng Khoa viết trước năm 1975 đã hoàn thành vai trò gọi tên một thần đồng thơ. (Sau này Trần Đăng Khoa có sửa những câu thơ như “Chăm ngoan học giỏi/ Là bạn thiếu nhi/ Ngu xuẩn nhất nhì/ Là Tổng thống Mỹ” mà nhiều người thắc mắc, thì cũng chẳng phải chuyện để xôn xao. 

Vì những câu thơ ấy chỉ như thay hàng ria trên mép bằng chòm râu dưới cằm thôi, mà khuôn mặt thần đồng thơ vốn đáng yêu nhờ “mày râu nhẵn nhụi”!). 

Nếu Trần Đăng Khoa vẫn điềm nhiên dùng bộ óc tỉnh táo để viết những câu thơ lính trận na ná Phạm Tiến Duật hay Hoàng Nhuận Cầm thì chắc chắn anh sẽ phải tự đào huyệt chôn danh hiệu thần đồng thơ. 

Đáng mừng thay, tưởng đã đến lúc nhiều người sử dụng câu thơ “Bao thần tượng ta tôn thờ cung kính/ Mưa nắng bào mòn còn trơ lõi đất thôi” mà Trần Đăng Khoa viết khi đang học ở Trường viết văn Gorki, để ngậm ngùi tiễn biệt anh khỏi làng thơ thì hồn thơ của anh lại trở về. 

Không ồn ào, cũng không bóng bẩy, Trần Đăng Khoa “tam thập nhi lập” dọn lên bàn tiệc thơ duy nhất một món tỉ tê. Có lẽ thấm thía nỗi bất lực “đôi lúc ta buồn quá/ muốn hát một câu chơi/ nhưng ta chưa cất giọng/ con vẹt đã hót rồi” nên câu thơ nào của Trần Đăng Khoa cũng rón rén như nói thầm vào tai. 

Và dẫu tỉ tê thì Trần Đăng Khoa vẫn bị áp lực thần đồng nên thơ anh lúc say lúc tỉnh. Ví dụ, bài lục bát Qua Xuđan, anh vừa chớm say câu sáu “Thành xưa đổ bóng vào trời” thì lập tức tỉnh rụi câu tám “Khói sương lãng đãng - một thời đã xa”, khiến cảm xúc cứ thậm thụt, hại cả tác phẩm trơn tuột giá trị thẩm mỹ. 

Hơn nữa, Trần Đăng Khoa đặc biệt có một khoảng trắng ở mảng thơ tình, mà có lẽ ngày xưa đưa Trần Đăng Khoa đến ra mắt Nàng Thơ, “ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu quên dúi “bí kíp” vào tay học trò. Nếu ai lơ mơ đem bài thơ Gửi em ở Ninh Bình của Trần Đăng Khoa để tán tỉnh các cô gái Tam Điệp hay Hoa Lư, cũng đều thất bại lập tức!

Nói gì thì nói, làng thơ Việt Nam mà thiếu cái dáng thấp đậm của Trần Đăng Khoa thì kể cũng buồn. Tôi ngắm nghía tướng đi của Trần Đăng Khoa nhiều năm và nhận ra một sự thật: Khi bước lảo đảo thì anh là thi sĩ đích thực, còn khi bước huỳnh huỵch thì anh là cán bộ chân chính. 

Bài thơ Ở nghĩa trang Văn Điển có thể xem như minh chứng rõ nét nhất. Trần Đăng Khoa lảo đảo đi qua hai khổ thơ đầy tâm trạng: “Người hạnh phúc và người đau khổ/ Đều gặp nhau trắng toát ở nơi này/ Đều dài rộng như nhau vuông cỏ biếc/ Đều ấm lạnh như nhau trong hơi gió heo may/ Ôi thiên nhiên, cám ơn người nhân hậu/ Những so le, người kéo lại cho bằng/ Ít nhất cũng là khi nằm xuống/ Trong mảnh gỗ rừng, dưới một vầng trăng”. 

Có lẽ dừng tại đây đã có được một bài thơ khá hay. Khổ thân, Trần Đăng Khoa đột nhiên lấy lại thăng bằng, anh không bước lảo đảo nữa mà bước huỳnh huỵch thêm... mười khổ thơ, như một vị cán bộ có cơ hội thuyết trình trước đám đông, đã tranh thủ nói cho hết mấy phút ưu tiên của mình, với kết luận trịnh trọng: “Trước mặt ta là hàng hàng bia đá/ Nói với ta: Hãy thương lấy Con Người”. 

Trần Đăng Khoa định dùng lắt léo và mưu mẹo để chuyển tải một thông điệp to tát, nên anh chia một bài Ở nghĩa trang Văn Điển thành hai loại thơ: hai khổ đầu là thơ-ưu-tư, còn mười khổ sau là thơ-diễn-đàn.

Nếu chọn một bài để khẳng định Trần Đăng Khoa sau năm tháng thần đồng đang bước lảo đảo về miền thi ca, có lẽ là Đỉnh núi. Thể thơ ngũ ngôn gập ghềnh, giúp những bước lảo đảo của Trần Đăng Khoa bộc lộ đầy đủ phẩm chất thi sĩ. 

Không thể nói khác hơn, Đỉnh núi là một điểm nhô lên giữa những mô, những gò, những đồi của thơ Trần Đăng Khoa thời vất vả làm người lớn. 

Đỉnh núi khi tình lúc cảnh, khi day dứt phận người lúc miên man nghĩa nước trọn vẹn suốt hai mươi câu thơ: “Ta ngự giữa đỉnh trời/ Canh một vùng biên ải/ Cho làn sương mong manh/ Hóa trường thành vững chãi/ Lán buộc vào hoàng hôn/ Ráng vàng cùng đến ở/ Bao nhiêu là núi non/ Ríu rít ngoài cửa sổ/ Những mùa đi thăm thẳm/ Trong mung lung chiều tà/ Có bao chàng trai trẻ/ Cứ lặng thinh mà già/ Áo lên màu mốc trắng/ Tóc đầm đìa sương bay/ Lời yêu không muốn ngỏ/ E lẫn vào gió mây/ Bỗng ngời ngời chóp núi/ Em xòe ô thăm ta?/ Bàng hoàng xô toang cửa/ Hóa ra vầng trăng xa...”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.