Thi sĩ Phạm Công Trứ: Ngỡ là gỡ cỏ mà chơi

Khoảng cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, thi đàn bỗng nổi lên một hiện tượng Phạm Công Trứ với dạt dào cảm hứng nông thôn qua tác phẩm tiêu biểu “Lời thề cỏ may”.

Rất tự tin, Phạm Công Trứ lấy cỏ may làm thương hiệu cá nhân, và in cả “Cỏ may thi tập”. Dù sau này Phạm Công Trứ có chuyển hướng sang “Phồn thi” thì công chúng vẫn nhắc đến anh ở phía cỏ may. Nhìn ở góc độ nghề nghiệp, câu chuyện cỏ may của Phạm Công Trứ cũng là câu chuyện thú vị để bàn thêm về thơ lục bát Việt Nam!

Khởi sự làm thơ của Phạm Công Trứ vẫn là những câu thơ lính trận như nhiều trai tráng cùng thế hệ. Để bộc lộ phẩm chất thi sĩ cấp trung đoàn hoặc thi sĩ cấp sư đoàn, thì thời Phạm Công Trứ 20 tuổi ở Trường Sơn năm 1973 đã làm được, như miêu tả đường hành quân “Tiếng chim rừng cũng ướt nhòe đứt nối/ Lâu lắm rồi suối thèm được trăng soi” hoặc miêu tả bóng hồng nơi khói lửa “Mặt em? Không, mặt mùa xuân/ Tiếng em? Không, tiếng nắng ngân lưng trời”.

Thế nhưng, bước qua giai đoạn bao cấp, Phạm Công Trứ mới thực sự dan díu với thi ca khi công bố bài thơ Lời thề cỏ may gây ấn tượng: “Em đi để lại chuỗi cười/ Trong tôi vỡ một khoảng trời pha lê/ Trăng vàng đêm ấy, bờ đê/ Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may...”.

Giọng thơ trong trẻo và đắm đuối đã mở ra cho Phạm Công Trứ một hướng sáng tác mang đậm phong vị quê mùa cổ điển. Phạm Công Trứ lấy cố hương Hải Hậu - Nam Định làm bệ đỡ cho thơ, với những hồi ức sinh động “Tuổi ấu thơ trôi nhanh như bay/ Chúng tôi lớn lên lúc nào không biết/ Rãnh nước sau nhà thoắt thành nhỏ hẹp/ Thuyền lá tre không chở nổi tâm hồn” và những hồi ức lãng mạn “Đường làng cây sóng hành đôi/ Tháng năm vương cỏ, tháng mười vương rơm/ Tháng hai xuân tím mặt đường/ Em đi gánh nước hoa vương tóc dài”.

Rất lạc quan và rất hăm hở, gã trai của Đồng bằng Bắc bộ mang mùi hương cỏ, hình hài cỏ, tinh thần cỏ nhập cuộc đô thị sầm uất: “Cỏ may giăng tím triền đê/ Một đêm trăng sáng cỏ về cùng tôi/ Ngỡ là gỡ cỏ mà chơi/ Ai ngờ duyên số thề bồi với nhau/ Tôi đi, cỏ cũng lên tàu/ Tôi vào khoa luật, cỏ vào công viên/ Tôi thì điều khoản triền miên/ Cỏ thì giăng mắc những miền phồn hoa”.

Phạm Công Trứ học ngành Luật trong nước, rồi lấy được bằng tiến sĩ luật ở nước ngoài. Phạm Công Trứ từng có giai đoạn đứng trên giảng đường luật khoa đấy chứ, nhưng vì mê thơ mà nhảy sang làm báo để thuận tiện đánh đu cùng chữ nghĩa.

Bỏ chỗ oai vệ mà ra chỗ chênh vênh, Phạm Công Trứ có chút xao xác “Tôi làm thơ khi trên mảnh đất này/ Thơ dần mất giá/ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương... mấy ai tìm đọc nữa/ Những ông chủ nhà in chẳng thiết in thơ nữa/ Muốn giải bày ư? Phải có những triệu đồng/ Bao nhà thơ đứt gánh giữa đường/ Thời thực dụng rẽ tìm lối khác” nhưng vẫn hồ hởi tìm kiếm giá trị riêng mình trong nỗi phập phồng “Trong mỗi một chiếc lá/ Có một bài thơ rồi/ Còn anh là thi sĩ/ Giải mã từ mà thôi”.

Có đòn bảy từ bài thơ Lời thề cỏ may được độc giả nắc nỏm, Phạm Công Trứ quyết tâm làm một thi sĩ chân quê. Dự định của Phạm Công Trứ không phải hão huyền, mà có cơ sở từ truyền thống phong thổ đàng hoàng. Mảnh đất Nam Định, thế kỷ 20 đã hun đúc hai thi sĩ chân quê, một Nguyễn Bính ở huyện Vụ Bản và một Đoàn Văn Cừ ở huyện Nam Trực, thì chả lẽ thế kỷ 21 không dung nạp một Phạm Công Trứ ở huyện Hải Hậu?

Thi sĩ Phạm Công Trứ và tập thơ Cỏ may thi tập.
Thi sĩ Phạm Công Trứ và tập thơ Cỏ may thi tập.

Viết kiểu Nguyễn Bính, cũng rõ tài hoa của Phạm Công Trứ: “Cỏ gà trắng, nắng se se/ Hơi may thoắt đã đổi hè thành thu/ Bồng bềnh hai nửa tháng tư/ Nửa giống tháng sáu, nửa như tháng mười”.

Còn viết kiểu Đoàn Văn Cừ, cũng rõ tấm lòng của Phạm Công Trứ: “Nắng mới bừng lên, nắng chứa chan. Bướm hoa chợt tỉnh giấc mơ vàng. Từng đàn con trẻ lăn trên cỏ. Chân đạp vào trời, miệng hét vang”. 

Thế nhưng, tâm tư của Phạm Công Trứ gần gũi với Nguyễn Bính hơn, đặc biệt thể hiện qua bài thơ Mưa xuân từ bữa ngại bay cứ y hệt tác giả Lỡ bước sang ngang tái sinh: “Mưa xuân từ bữa ngại bay/ Hoa xoan nát dưới gót giày ngõ quê/ Em ra thành phố không về/ Mẹ treo khung cửi dứt nghề tằm dâu/ Làng giờ nhạt tục ăn trầu/ Thôn Đoài sắp đốn hàng cau liên phòng/ Gái làng bao đám cưới chồng/ Rước dâu đâu xác pháo hồng lối đi/ Trăng vàng vẫn dãi bờ đê/ Cố nhân còn có nhớ về cố hương?”.

Được đà, Phạm Công Trứ liên tục bám lấy cảm hứng Nguyễn Bính để bày tỏ những quan sát đời thường đang đổi thay vùn vụt: “Lối xưa xe ngựa thâm u/ Lối nay xe cúp vù vù khoe sang/ Nền xưa lầu hạc gác vàng/ Nền nay siêu thị chắn ngang mây trời/ Bạn xưa chay tịnh vườn Bùi/ Bạn nay thịt chó dậy mùi Nhật Tân/ Mình xưa chân đất đầu trần/ Mình nay bụng phệ tay cầm mô-bai/ Xưa nay hai nửa mặt đời/ Vừa lao lên trước, vừa lùi về sau”, đồng thời cũng bám lấy cảm hứng cỏ may để bộc lộ trắc ẩn bản thân: “Thôi nhé! Trăng vàng phụ bờ đê/ Cỏ may đành lỗi với lời thề/ Ngoại ô tạm lánh đời phồn thị/ Níu lại hồn làng nửa nét quê”.

Thế mạnh của Phạm Công Trứ nằm ở lục bát. Thể thơ câu sáu chữ, câu tám chữ có thể xem như một phát minh độc đáo của người Việt. Cái vần chân ở câu sáu và cái vần lưng ở câu tám, nhịp nhàng lắm, dẫn dụ lắm, quyến rũ lắm. Lục bát dễ chinh phục người đọc nhưng lại đầy thách thức người làm. Viết sao cho luyến láy êm tai thì ai cũng viết được, nhưng viết cho ra phong cách lại chả mấy ai viết được.

Truyện Kiều của Nguyễn Du để lại một lâu đài lục bát để hậu bối trầm trồ và chiêm ngưỡng. Nguyễn Bính dị biệt, tạo nên một khu vườn lục bát toàn hoa đồng cỏ nội. Phạm Công Trứ muốn nối gót theo cũng đầy gian nan. Vậy mà Phạm Công Trứ cũng có được ba bài lục bát về mùa thu đáng nâng niu.

Bài Thu cảm lý sự bất ngờ: “Mướp tàn sen cũng đi tu/ Lá tre đã thả một mùa heo may/ Con sông không ốm mà gầy/ Mắt em chưa tối đã đầy hoàng hôn”. Bài Thu cúc lãng đãng mơ màng: “Sen tàn hạ xuống đáy ao/ Heo may dắt cúc ra chào mùa thu/ Mùa thu khoác áo sương mù/ Đầu đội mây trắng ngồi tu nắng vàng”.

Và bài Thu tàn chơi vơi hoài niệm: “Cỏ may xao xác ngõ ngoài/ Mấy chùm hoàng thảo rối bời giậu thưa/ Chập chờn nắng lặn vào trưa/ Loang mù vào sớm, đổ mưa vào chiều/ Cành bàng xác lá như thiêu/ Cánh chim năm ngoái ít nhiều hoang mang”. 

Cả ba bài lục bát quẩn quanh sắc thu, gió thu, tình thu của Phạm Công Trứ có chất liệu hình ảnh rất cũ, có cấu trúc câu thơ rất cũ và có phương pháp tu từ cũng rất cũ, nhưng lại khơi dậy rung động rất mới. Giỏi thật!

Dù xoay chuyển ý tứ nhanh hơn, nhưng nếu vẫn chọn giọng điệu mộc mạc và đằm thắm thì Phạm Công Trứ mãi mãi là cái bóng của Nguyễn Bính. Bằng sự nhạy bén, Phạm Công Trứ đã thoát khỏi ảnh hưởng Nguyễn Bính nhờ chất cợt đùa. 

Ví dụ, bài Đường vào chùa Hương lả lơi theo mái chèo: “Bến Đục mà nước thì trong/ Bao nhiêu trần tục rửa lòng ở đây/ Trời lồng nước, núi liền mây/ Lờ mờ sương sớm, ngất ngây hương tình/ Trên đò các cụ tụng kinh/ Chúng mình trẻ quá, chúng mình tụng nhau”. Trong 6 câu này, 5 câu trước giống Nguyễn Bính và thua xa Nguyễn Bính, nhưng câu sau cùng lại khác Nguyễn Bính và trẻ trung hơn Nguyễn Bính!

Dĩ nhiên, Phạm Công Trứ thừa biết ưu điểm ấy, song sử dụng kỹ năng cợt đùa đâu có đơn giản. Chuyển hướng sang Phồn thi, Phạm Công Trứ dùng chất cợt đùa không mấy hiệu quả, từ thể thơ lục bát “Dù đài các hay quê mùa/ Cũng thích phần xác, cũng ưa phần hồn/ Dẫu chuộng thực hay chuộng khôn/ Chung quy vẫn một vần "ồn" mà ra” đến thể thơ 4 chữ “Thoạt đầu khỏa tay/ Nuột nà tay trắng/ Rồi thì khỏa chân/ Ngọc ngà chân thẳng/ Rồi thì khỏa ngực/ Mởn mơ ngực hồng/ Rồi thì khỏa hông/ Hông đầy ngồn ngộn/ Bây giờ khỏa rốn/ Rốn tròn bây-by/ Rồi nữa khỏa gì/ Gặp em hỏi nhỏ/ Em cười quay đi!”. Kiểu Phồn thi của Phạm Công Trứ hơi có tính tấu hài bình dân, chứ rất ít chất thơ. Vì sao? Vì những vần điệu cợt đùa không chuyển hóa sự thao thức gì của tác giả.

Sự cợt đùa giúp Phạm Công Trứ biệt lập so với Nguyễn Bính, nhưng đôi khi Phạm Công Trứ tự tin quá mức mà sản xuất ra... vè. Cũng đề tài tình yêu, Phạm Công Trứ cợt đùa suông thì chỉ có vè “Tiểu thuyết em đã đọc nhiều/ Mà em chưa hiểu tình yêu là gì/ Thì em hãy cứ yêu đi/ Rồi em sẽ biết là gì: tình yêu”, còn Phạm Công Trứ cợt đùa có gửi gắm ưu tư thì lập tức có thơ “Tình tôi một đống rơm chiêm/ Em đùa xòe một que diêm ném vào/ Bén rơm lửa bốc ào ào/ Chút tro còn lại gió trao cho trời/ Giận thân những muốn chửi đời/ Đến khi ngửa mặt lên rồi lại im”.

Phạm Công Trứ một mình giữ gìn Lời thề cỏ may nên cũng biết làm giá thi sĩ: “Trăng vàng con của đồng quê/ Thơ tôi con của lời thề đẻ rơi/ Phố phường ngoảnh mặt thơ tôi/ Tôi mà chết sớm ai nuôi trăng vàng?”

Đúng vậy chứ sao, không có Phạm Công Trứ thì thơ Việt thế kỷ 21 vắng đi một tâm hồn luôn chấp chới trước những vẻ đẹp làng quê đang bị chi phối bởi lối sống bon chen: “Hội tan thần phật về trời/ Cỏ may giập nát gượng ngồi dần lên/ Chân nhang que đứng, que xiên/ Gió lăn xác lá quét trên sân chùa”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.