Thi sĩ Hoàng Yến: Lầu xưa vẫn đợi trăng lên mặt người

Lần đầu tiên tôi nghe nhắc đến Hoàng Yến khi ngồi hầu chuyện thi sĩ Yến Lan vào một buổi chiều trở gió cuối năm 1997 ở góc chợ An Nhơn (Bình Định). 

Tác giả danh phẩm “Bến My Lăng” cho tôi xem tập thơ “Những ngọn đèn” với bìa và lời tựa của Văn Cao, ông bảo: “Tập này của mình và tập “Tình người soi dặm đường” của Hoàng Yến cùng in năm 1957!”.

Từ đó, tôi bắt đầu tìm đọc sáng tác của Hoàng Yến. Với độ lùi thời gian, “Những ngọn đèn” của Yến Lan còn đọng những câu gai góc, còn “Tình người soi dặm đường” của Hoàng Yến chứng minh một giọng thơ đa cảm lạc lõng giữa giai đoạn thi ca phải phục vụ cho những mục đích cụ thể hơn.

Nghĩ mà thương Hoàng Yến năm 30 tuổi, ngay giữa mùa tết chiến dịch Hòa Bình năm 1952, ông đã phiêu lãng: “Chiều cuối năm chưa xuống/ Sương xuống nhiều hơn mưa/ Bứt lá bỏ dòng suối/ Thả xuân về dưới kia”.

Hoàng Yến là một cây bút tài hoa. Ông viết kịch, viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết đều có những thành công nhất định với đề tài lịch sử. Ba tiểu thuyết khá dày dặn Câu thơ yên ngựa, Chân mây khép mở và Người học trò áo xanh đều trực tiếp đánh động những suy tư mới, trắc ẩn hơn, nhân ái hơn về những con người trong quá khứ. Hình như buồn đau đang nếm trải càng khiến ông lặn sâu vào vết tích cha ông như một sự sẻ chia, như một niềm an ủi.

Những truyện ngắn ông lấy không gian hiện đại như Mất lửa hay Ngưỡng cửa không thuyết phục bằng những truyện ngắn khai thác yếu tố lịch sử như Chẩn bệnh Hiền Vương hay Nợ hoa.

Ngay ở thể loại kịch cũng vậy, những vở kịch nói về người đương thời dù có tiếng vang như Hình và bóng hay Mưa bóng mây cũng không thú vị bằng những vở kịch khai mở huyền bí dĩ vãng như Kẻ trộm nước trời hay Quận chúa Ngọc Sương.

Tôi chưa từng trò chuyện trực tiếp với Hoàng Yến, chỉ đọc tác phẩm để hiểu con người. Trước khi nhà thơ Hoàng Yến qua đời ở tuổi 90 vào năm 2012, thỉnh thoảng tôi gặp ông đi bộ dọc con phố trước nhà con gái ông - nữ sĩ Hiền Phương.

Mỗi lần như vậy, tôi lặng lẽ nhìn ông, không khác gì một cụ già hưu trí nhàn tản. Ông bước chậm rãi và thong dong trên vỉa hè, nhưng đôi mắt hắt ra thứ ánh sáng khiến ai trông thấy cũng phải nghĩ rằng, đó là một con người không dễ bắt nạt. 

Tôi không thể xác định Hoàng Yến đang đi bên lề cuộc sống ồn ã hay đang đi bên lề văn chương thị phi, chỉ mơ hồ cảm nhận hình như ông không có nhiều bạn và cũng không muốn người khác xen vào những ý nghĩ sốt ruột của ông. Một sự cô độc đáng kiêu hãnh!

Nhà thơ Hoàng Yến (1922-2012).
Nhà thơ Hoàng Yến (1922-2012).

Tôi nghĩ thế khi nhớ bài thơ Một giọng đàn một dòng sông mà Hoàng Yến viết từ năm 1957: “Tiếng đàn bên tai tưởng trong cơn mê sảng/ Ánh đèn đường hay sáng bóng trăng/ Mưa bụi rơi không tiếng bên thềm.../ Đã từ lâu tôi có biết khóc đâu/ Mỗi tiếng đàn đưa tôi xuống một chiều sâu/ Đi về những dặm chim/ Những con đường hôm qua máu rỏ/ Lãng quên chưa hề mọc cỏ...”.

Với nhà thơ Hoàng Yến, có lẽ thao thức lớn nhất của đời ông là sáng tạo. Thao thức ấy, được ông gửi gắm trong tuồng hát bội Tiếng trúc thần

Khi Hung Thần trao cây trúc cho Đông Lâm đã ra điều kiện: “Khi nào công việc ngươi làm đè nặng lên ngươi như hòn đá tảng. Khi nào nguồn sáng tạo trong ngươi đã cạn. Khiến ngươi chạy trốn bản thân ngươi. Và hồng tiêu chỉ còn những âm thanh mòn mỏi biếng lười. Chính lúc đó ta sẽ gọi ngươi về cõi chết”. 

Cuối cùng, Đông Lâm ngộ ra: “Suốt cuộc đời ta nay mới hiểu. Sự sống và sáng tạo như hình với bóng. Dù cái chết kề bên cũng đừng dao động. Đừng bao giờ buông thả bản thân”. 

Năm 1955, Hoàng Yến viết bài phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu một cách thẳng thắn, cũng vì nguyên nhân duy nhất là nhằm đề cao sự sáng tạo.

Lúc cầm cây bút trên tay, Hoàng Yến chối từ mọi sự dễ dãi. Như một lời tự động viên bản thân ngày theo cách mạng từ năm 1950, ông viết bài thơ 19 tháng 12 bằng những hình ảnh quyết liệt: “Chưa biết đường đi bao lâu/ Chỉ biết cuộc đi bắt đầu/ Chưa biết đường xa hay gần/ Chỉ biết đường mang dấu chân/ Một người dân không - nô-lệ/ 19 tháng 12/ Từ ngày ấy/ Tôi đi vào Tổ quốc/ Như đi vào bí mật của tình yêu”.

Sau tập thơ Tình người soi dặm đường như một lần chạm ngõ thi ca, Hoàng Yến đau đáu hơn với chữ nghĩa. Ông tự nhắc mình qua bài thơ Nếu có lần sau ẩn giấu không ít nghiệt ngã của kẻ đam mê: “Nàng thơ bỗng cười to/ Chỉ tay vào ngực/ Nơi sự thật không trang sức/ Một gã làm thơ công chức/ Bôi bẩn mực giấy trắng lương tâm/ Lại đòi làm cây trầm đứng thơm cả núi/ Tôi cúi đầu/ Nếu có một lần sau/ Dù phải kiếp ngựa trâu/ Xin yêu người trong vô thức/ Viết bằng mực của trái tim đau”.

Hoàng Yến làm thơ không nhiều. Một tuyển thơ Hoàng Yến được NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 2007, dày ngót nghét 200 trang kể cả phần dịch thơ Puskin, nhưng riêng tập Giấc xưa đã đủ cho ông đồng hành với nền thơ nước nhà thế kỷ 21. Giấc xưa phô diễn một kiểu thơ mông lung, đa thanh và phức cảm. 

Ngoài bài thơ Hắn dài hơn 100 câu ám ảnh như một cuốn tiểu thuyết phản ánh biến thiên của một số phận chìm nổi (mà muốn hiểu phải đọc trọn vẹn chứ không thể trích dẫn) thì 16 bài thơ còn lại trong Giấc xưa phác họa khá trọn vẹn chân dung nhà thơ Hoàng Yến “chỉ thương cho thơ không biết đường nói dối/ mỗi độ gió thu cởi áo cây bàng”.

Một nhà thơ đích thực, dù che đi lý lịch, che đi địa vị thì diện mạo vẫn hiện ra trong thơ. Tuổi thơ Hoàng Yến “hái bằng tai” nỗi khắc khoải Làng hiu hắt: “Nơi tôi sinh ra giữa đêm tăm tối/ Định mệnh hãi hùng mang bộ mặt quỷ ma sà xuống bên nôi/ Thằng bé bò lê nhặt vào mồm mọi thứ gặp trên đất/ Và hái bằng tai từng tiếng quạ chiều rơi, dưới cây đa chùa ru tuổi ấu thơ”. 

Và cuộc đời Hoàng Yến chuồi theo những Không đề ngổn ngang mâu thuẫn: “Anh sinh trên mảnh đất nhóm chợ, mà chưa đủ khôn, để tập làm quen với chuyện li hôn/ Như gã già xưa rậm râu, kè kè bên mình nỗi đau thế kỷ/ Như một gã trai sau chuyến đi xa, bước xuống sân ga, tay không, mà nặng trĩu vai hơn kẻ mang nhiều hành lý”.

Hoàng Yến không có thái độ cách tân thơ bằng hình thức cầu kỳ. Ông thay đổi thẩm mỹ thơ từ chính nội dung. Do đó, Hoàng Yến viết được nhiều thể loại một cách mới mẻ. 

Thơ lục bát của Hoàng Yến xa vắng: “Giấc xưa bỏ ngỏ chờ em/ Lầu xưa vẫn đợi trăng lên mặt người/ Em xuôi bến lạ tìm mơ/ Thuyền côi cắm mục hai bờ sông mưa”. Thơ ngũ ngôn của Hoàng Yến lắt léo: “Ôi! Cái nhìn vạn lý/ Vụ li dị trường thành/ Trời viết mây hồi ký/ Cây tòa án vẫn xanh”

Thơ chia mỗi khổ bốn câu theo lối truyền thống của Hoàng Yến vẫn không cho phép vần điệu che mờ cảm xúc: “Thần ái tình chết từ đầu thế kỷ/ Lứa đôi nay không thề bóng trăng xưa/ Tình chung thủy là món hàng xa xỉ/ Sao ngõ hẹn một đời anh vẫn đứng đội mưa?”.

Cốt cách thi sĩ khiến cuộc đời Hoàng Yến như bềnh bồng giữa nhân gian. Ông tự thú “người ta trách tôi mơ mộng, bảo rằng tôi sống trên mây”. Ông gọi những ngày được sống trong tình yêu là “trên ngã ba mây”. 

Với chín khúc nức nở, khi đọc Trên ngã ba mây, tôi tin rằng bài thơ này rồi sẽ được in lại trong nhiều tuyển thơ dành cho đôi lứa. 

Bởi lẽ, Hoàng Yến lý giải tình yêu rộn rã và mạnh mẽ: “Tên em/ Chiều nhớ/ Hành hương/ Tiếng dế đồng sương/ Tên em/ Một thiên đường đã mất/ Một thiên đường chưa mở ngỏ/ Một thiên đường xưa cha ông để lại/ Di truyền anh qua ký ức bào thai/ Qua vùng sáng trên trang sách nát/ Qua thân xác trần truồng những giấc mơ trôi dạt/ Đêm đêm tấp bến Ngân Hà”.

Nhịp điệu thơ Hoàng Yến luôn gấp gáp. Ông kéo gần lại những hình ảnh tưởng chừng cách ngăn nhau ở những cự ly nhất định, với từ ngữ phóng khoáng: “Trong trái tim em có vàng của mặt trời, than của đêm đen/ Song giữa hai vùng đệm, có mặt trăng đến ở.../ Trên mỗi chặng hành hương, em là bóng - trăng - đường, làm dịu vết thương của lửa”

Đọc những câu chữ Hoàng Yến vung ra rối rít như những trận gió chờ vỡ òa dông bão, tôi cho rằng vẻ đẹp thơ ông nằm ở sự tự vấn. Ông tự vấn trước người tình: “Anh thôi soi mặt vào tấm gương trăng/ Bỗng thấy hiện lên một khuôn mặt khác/ Hóa ra mình là thằng người hèn nhát/ Nhờ tình yêu đẽo đá kê cao/ Nhờ tình yêu khêu một ngọn đèn/ Để được thấy bóng mình thành ông khổng lồ trên vách/ Song lại để cái nghèo cướp đi chiếc áo cuối cùng chưa kịp rách”

Ông tự vấn trước Cuộc chơi phận kiếp ngắn ngủi: “Lạch bạch tụt lại sau, một cảm giác nhỡ tàu.../ Lúc chết xòe tay ra, hóa ta người đến trước”.

Chính nhờ biết cách tự vấn sâu sắc, dù cho Hoàng Yến “tài sản anh chỉ một tâm hồn” vẫn tỏa sáng một miền yêu thương với con người xung quanh. 

Không thể nói khác hơn, tôi đã thấy qua thơ, một người đàn ông Hoàng Yến thương vợ với tất cả sự mẫn cảm và yếu đuối: “Anh đứng bên đầu giường, nhìn em trong đêm lặng/ Anh cúi hôn bàn tay, thơm mùi xà phòng giặt/ Anh cúi hôn đôi mắt, còn thức bên nôi con”

Tôi cũng đã thấy qua thơ, một người công dân Hoàng Yến yêu hòa bình với tất cả sự tử tế và lương thiện: “Anh không mặc vừa tấm áo công danh/ Không tìm tiếng tăm trong họng súng chiến tranh, buộc lòng anh cầm súng/ Ôi, giá như loài người biết đánh nhau bằng bông súng trên ao làng”.

Khi về hưu sau mấy chục năm công tác chỉ với mức lương tương đương một viên chức mới vào công sở, Hoàng Yến đã từng thảng thốt: “Dưới mây lành của đất, các bạn đã chôn/ Một kiếp buồn lay lắt của Nỗi Người” nhưng ông chưa bao giờ quay lưng với một ngày mai sẽ tốt đẹp hơn: “Anh bán máu, nếu cần cả mạng sống/ Nhưng anh không bán hy vọng, dù hy vọng đã ra nghĩa trang/ Thế hệ trẻ không -chịu - nghèo sẽ tới/ Chân trời đẩy ra xa/ Nhân phẩm có thịt da/ Nắng thơm mùi áo mới”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.