Thi sĩ Bàng Bá Lân: Không đành múc trăng vàng đổ đi

Đã 30 năm, kể từ ngày thi sĩ Bàng Bá Lân qua đời ở tuổi 76, hình ảnh của ông vẫn lãng đãng trong nhân gian và sự nghiệp của ông vẫn bàng bạc trên văn đàn.

Rời khỏi cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941”, thi sĩ Bàng Bá Lân sống chủ yếu bằng nghề dạy học và nghề chụp ảnh. Một tâm hồn quê kiểng không còn thong dong giữa những con đường làng quanh co, liệu có tạo ra một thi sĩ Bàng Bá Lân khác không? Số lượng thơ tương đối khiêm tốn mà thi sĩ Bàng Bá Lân để lại, ít nhiều giúp độc giả giải mã nỗi băn khoăn ấy!

Xưa nay, thơ viết ngàn trang mà nhạt nhẽo thì cũng hao giấy tốn mực. Thi sĩ đôi khi chỉ cần có một bài thơ, thậm chí thi sĩ đôi khi chỉ cần có một câu thơ có thể an ủi người khác lúc trống vắng hoặc lúc bâng quơ, cũng đã đáng được thiên hạ tri ân. Nếu xét trên phương diện đong đếm cụ thể, thi sĩ Bàng Bá Lân chỉ cần bài thơ Tiếng hát trong trăng để lưu danh lịch sử văn học. 

Bài thơ Tiếng hát trong trăng có tất thảy 6 câu, chia làm 3 cặp lục bát: “Trời cao, mây bạc, trăng tròn/ Đê than hiu quạnh, tre buồn nỉ non/ Diều ai gọi gió véo von/ Cành xoan đùa ánh trăng suông dịu dàng/ Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?”.

Bài thơ Tiếng hát trong trăng được in lần đầu trong tập Tiếng thông reo xuất bản năm 1934. Bốn câu trước không có gì đặc biệt, một lối tả cảnh ngụ tình mà nhiều người cũng viết được. Tuy nhiên, hai câu sau đã cho tác phẩm một cái kết thật độc đáo, hành vi thật “tát nước” chuyển hóa vào bức tranh ảo “múc trăng vàng” để trở thành một câu hỏi thẩm mỹ ấn tượng. 

Sáng tạo của thi sĩ Bàng Bá Lân thâm nhập sâu rộng vào đời sống tinh thần người Việt mà biến tấu chút đỉnh trong cảm thức ca dao: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?”.

Hai khái niệm “trăng vàng” và “ánh trăng vàng” không dị biệt nhau nhưng tình cảm của thi sĩ Bàng Bá Lân nằm ở chữ “lại” mà câu thơ bị ngộ nhận là ca dao để gạt ra ngoài. 

“Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” đơn thuần gợi lên một vẻ đẹp, còn “Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi” khi gắn vào văn bản Tiếng hát trong trăng với những “trời cao”, “mây bạc” và “đê than”, “tre buồn” thì còn có ý nhắc nhở vẻ đẹp có thể bị bỏ quên trong cuộc sống nhọc nhằn. 

Nói cách khác, theo nguyên tác, thi sĩ Bàng Bá Lân không đành múc trăng vàng đổ đi. Còn hai câu thơ của thi sĩ Bàng Bá Lân được mặc định như ca dao, cũng có tiêu chí tồn tại riêng!

Thi sĩ Bàng Bá Lân (17-12-1912 - 20-10-1988) sinh ra và lớn lên ở Bắc Giang. Từng có nhiều năm học hành ở Hà Nội, sau ba lần thi hỏng tú tài, thi sĩ Bàng Bá Lân về lại miền quê có tên gọi Kép để sống chung với bố mẹ. Tập thơ đầu tay Tiếng thông reo ra đời trong giai đoạn này, khi thi sĩ Bàng Bá Lân ở độ tuổi 22. 

Trong quyển phê bình trứ danh Thi nhân Việt Nam 1932-1941, Hoài Thanh - Hoài Chân không đề cập trực tiếp đến chất lượng tập thơ Tiếng thông reo mà chỉ nhận định về tập thơ Tiếng sáo diều của Bàng Bá Lân lúc ấy chỉ nằm ở dạng bản thảo. Điều này cũng dễ thông cảm vì điều kiện xã hội thời bấy giờ không thể lưu truyền sách báo đầy đủ để một người đọc được tiếp cận trọn vẹn những tác phẩm của một người viết.

May mắn thay, tập thơ Tiếng thông reo của thi sĩ Bàng Bá Lân đã lọt vào mắt xanh của một đồng nghiệp là thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp. Trên báo LAnnam Nouveau số ra ngày 11-4-1935, thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp viết bài ca ngợi tập thơ Tiếng thông reo.

Chính thi sĩ Bàng Bá Lân trong cuốn sách Kỷ niệm văn thi sĩ hiện đại xuất bản năm 1962, đã kể tỉ mỉ: “Bỗng một hôm, một người em cô cữu đến chơi cho tôi hay là anh vừa được coi bài phê bình tập thơ Tiếng thông reo trên báo LAnnam Nouveaudo Nguyễn Nhược Pháp viết. Tôi vội cho người đi tìm số báo đó của ông điền chủ ở gần bên. Vì ông này là bạn thân của ông Nguyễn Văn Vĩnh (thân sinh Nguyễn Nhược Pháp) nên tất cả báo chí do ông Nguyễn Văn Vĩnh xuất bản, chủ trương ông đều mua cả... Tôi chăm chú đọc bài phê bình dưới cái đề mục Le coin des remeurs. Đọc xong, tôi cảm động và thấy mến anh vô cùng. Cảm mến không phải vì anh đã quá khen tôi mà vì văn anh viết rất lưu loát, lời nhã nhặn và duyên dáng; hơn nữa anh tỏ ra hiểu tôi nhiều. Tôi liền viết một bức thơ cảm ơn và nhân tiện để làm quen, gởi về tòa soạn LAnnam Nouveau. Ít ngày sau thì nhận được thư trả lời đề ngày 20-4-1935...”. 

Và thật thú vị, ngay trong bức thư giao lưu của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp đã dung chứa thêm một... bài phê bình về thơ Bàng Bá Lân: “Tôi rất lấy làm mừng vì đã hiểu được tâm hồn anh. Cái vui nhất của người phê bình là hiểu thấu được tâm hồn tác giả cuốn sách. Như ý tôi, thì phải thật là thi sĩ mới biết yêu thú quê, cái thú vui mộc mạc. Ca hát tình yêu thì hỏi người trai trẻ nào mà không ca? Đã là văn thì phải cần có cái gì xuất sắc. Thơ anh hơi điểm chút buồn nhưng cái buồn êm ái, điềm đạm. Thơ cảnh lại có tình thì hoàn toàn vậy. Tôi dám quả quyết rồi sau này anh sẽ chiếm một địa vị độc nhất trong làng thơ: anh sẽ là thi sĩ của thôn quê. Chắc anh không quên thi sĩ Latinh trứ danh Virgile, một người yêu cảnh thôn quê một cách lạ lùng. Anh nên lấy mà làm gương...”.

Thế hệ Thi nhân Việt Nam 1932-1941 có nhiều người chuyên chú viết về làng quê mà mỗi người đều có phong cách. Thi sĩ Nguyễn Bính đồ sộ nhất nhưng cũng không thể phủ bóng lên thi sĩ đồng hương Nam Định - Đoàn Văn Cừ hoặc hai thi sĩ xứ Bắc Giang là Anh Thơ và Bàng Bá Lân. Ngược lại, dù thân thiết đến mức in chung tập thơ Xưa thì thi sĩ Bàng Bá Lân cũng khác thi sĩ Anh Thơ. 

Những ngày xa lánh phố xá để ngụp lặn trong không khí thôn dã, thi sĩ Bàng Bá Lân luôn mang nỗi ưu tư “Em ơi, vui thú phồn hoa mãi/ Có biết đồng quê đang nhớ mong” để viết những câu thơ da diết về mảnh đất ấp ôm mình. 

Những cơn mưa rũ buồn nơi vắng tiếng lao xao, thi sĩ Bàng Bá Lân không chỉ nhìn thấy cảnh Nhà dột thấm thía:Bốn bề gió lạnh vào thăm/ Ba gian mưa ướt biết nằm nơi nao/ Dế ngâm thơ ở khe nào/ Báo cho ta biết ta vào trú mưa” mà còn nhìn thấy Tình trong mưa nôn nao hoài niệm: “Buổi một nàng qua dưới mái hiên/ Đường mưa in một gót chân tiên/ Ta nhìn theo bước đi ren rén/ Bỗng cả lòng yêu náo nức liền.../ Từ ấy trên đường loang loáng mưa/ Tìm hoài đâu thấy gót chân xưa/ Đường mưa bao gót chân mưa bước/ Gợi mãi tình yêu buổi dại khờ!”.

Làng quê trong thơ Bàng Bá Lân không dừng ở trạng thái tĩnh lặng mà lúc nào cũng sinh động. Cổng làng sinh động nhờ vệt nắng mai nhen nhóm “Cổng làng rộng mở. Ồn ào/ Nông phu lững thững đi vào nắng mai”, còn Chiều quê sinh động nhờ một bè rau tìm chốn nương náu lúc chạng vạng “Mặt trời đỏ thẫm sau tre/ Tiếng trâu nghé ọ trên đê gọi đàn/ Buồn thiu trong mảnh ao làng/ Bè rau rút ngủ lá vàng héo hon”. 

Quan trọng hơn, làng quê của thi sĩ Bàng Bá Lân luôn sinh động nhờ người quê giăng mắc nhớ thương “Ta giống làng khuya, em giống trăng/ Làng buông diều sáo tới cung Hằng/ Làng kia còn có diều xe mối/ Ta gối tình yêu chẳng nói năng”.

Sau năm 1945, thi sĩ Bàng Bá Lan di cư vào Đồng Nai, rồi lên Sài Gòn lập nghiệp. Ngoài niềm vui dạy học và đam mê chụp ảnh, thi sĩ Bàng Bá Lân còn có thời gian làm chủ bút nguyệt san Bông Lúa. 

Một thi sĩ sở trường viết về làng quê như Bàng Bá Lân mà không còn được tắm gội trong hơi gió mặn mòi của làng quê thì chẳng khác gì trăng vàng đã đổ đi theo nhịp gầu tát nước bên đàng. 

Bên cạnh vài náo nức dành cho đất mới “Ở đây dừa mọc liền chen/ Đổ muôn bóng rợp đầu hiên cuối hè/ Chân thành một tấm tình quê/ Sớm chiều đon đả đi về đón đưa.../ Xa xôi nhớ mãi vườn dừa/ Thương về nàng ấy bây giờ thương ai” thì thơ Bàng Bá Lân chỉ còn nỗi khắc khoải cố hương, khi bâng khuâng “Bắc, Nam từ buổi chia lìa/ Xuân sang mỗi độ nhớ về xa xưa/ Đã tàn hơn một giấc mơ/ Ngược dòng kỷ niệm ấu thơ ngại ngùng” và khi cô quạnh “Ngày ngâu gió kép mưa đơn/ Mái tranh rỏ những lệ buồn vu vơ/ Đêm dài, nhịp tiếng võng đưa/ Lời ru ời ợi ngàn xưa vọng về.../ Nhớ nhung, sầu mắc lê thê/ Xa xôi, nghe dậy hồn quê não nùng!”.

Đời thơ rất khó đoán định, sau năm tháng tuổi trẻ dạt dào thì cảm xúc cũng vơi cạn dần. Thi sĩ Bàng Bá Lân cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, thơ Bàng Bá Lân khi rời làng quê dan díu ân tình, có một tác phẩm cần phải lưu ý là bài thơ Đói viết năm 1957. 

Tức là, vào năm Đinh Dậu, thi sĩ Bàng Bá Lân đã hồi tưởng nạn đói năm Ất Dậu thập kỷ trước, để ghi lại những xót xa giùm đồng bào: “Khắp đường xa những xác đói rên nằm/ Trong nắng lửa, trong bụi lầm co quắp/ Giữa đống giẻ chỉ còn đôi hố mắt/ Đọng chút hồn sắp tắt của thây ma/ Những cánh tay gầy quờ quạng khua khoa/ Như muốn bắt những gì vô ảnh/ Dưới mớ tóc rối bù và kết bánh/ Một làn da đen sạm bọc xương đầu/ Răng nhe ra như những chiếc đầu lâu/ Má hóp lại, răng hằn sâu gớm ghiếc/ Già trẻ gái trai không còn phân biệt/ Họ giống nhau như là những thây ma”.

Bài thơ Đói dài hơn 100 câu, gần như khác hẳn lối viết quen thuộc của thi sĩ Bàng Bá Lân. 

Có thể tạm hiểu, thi sĩ Bàng Bá Lân không dụng công làm thơ khi viết Đói mà ông muốn san sẻ một bi kịch dương gian mà bản thân từng chứng kiến trong kiếp phận lênh đênh: “Ta nhớ mãi cái thời kỳ đen tối/ Quên làm sao tội lỗi kẻ xâm lăng/ Quên làm sao mối thù hận khôn cùng/ Quên sao được hai triệu người chết đói/ Năm Ất Dậu tháng ba, còn nhớ mãi/ Giống Lạc Hồng cực trải lắm đau thương/ Những thây ma thất thểu đầy đường/ Rồi ngã gục không đứng lên vì... đói/ Đói tự Bắc Giang đói về Hà Nội/ Đói ở Thái Bình đói tới Gia Lâm...”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.