Chất lượng môi trường nước mặt sông suy giảm
Theo kết quả quan trắc mới nhất trong kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt sông, hồ nội thành giai đoạn 2026-2030 vừa được UBND TP Hồ Chí Minh phê duyệt đã cho thấy tại nhiều tuyến sông, kênh rạch vẫn tồn tại những "điểm đen" ô nhiễm kéo dài, trong đó nổi cộm là tình trạng gia tăng Amoni, COD và áp lực ngày càng lớn từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp.
Điều đáng chú ý là chất lượng nước trên nhiều tuyến sông lớn từng có dấu hiệu cải thiện trong giai đoạn 2021-2023 nhưng lại suy giảm trong hai năm gần đây. Đây là tín hiệu cho thấy tốc độ đô thị hóa, phát triển công nghiệp và gia tăng dân số đang tạo áp lực rất lớn lên môi trường nước mặt.
Kết quả quan trắc cho thấy chỉ số chất lượng nước (WQI) trên sông Sài Gòn dao động từ 57 đến 93, tức từ mức trung bình đến rất tốt. Tuy nhiên, đáng lo ngại là thông số Amoni đã vượt quy chuẩn từ 1,2 đến 5,2 lần, trong khi COD vượt từ 1,2 đến 3,6 lần.
Nếu sông Sài Gòn còn giữ được nhiều đoạn nước đạt chất lượng khá thì các rạch đổ vào sông thì hoàn toàn khác. WQI chỉ đạt từ 25 đến 84, tức có nơi ở mức xấu. Đặc biệt, Amoni vượt quy chuẩn tới 87,8 lần, COD vượt 12,3 lần. Những con số này cho thấy nhiều tuyến kênh, rạch nội đô đang trở thành nơi tiếp nhận lượng lớn nước thải chưa được xử lý triệt để.
Tương tự, sông Đồng Nai - nguồn cấp nước quan trọng của thành phố - có WQI từ 74 đến 98, song chất lượng nước cũng suy giảm trong giai đoạn 2023-2025. Thông số Amoni vượt quy chuẩn từ 1,2 đến 1,7 lần, còn COD tại các vị trí Long Phước, Bình An và Hóa An vượt từ 1,5 đến 2,2 lần. Các rạch đổ vào sông Đồng Nai cũng xuất hiện nhiều điểm ô nhiễm với Amoni vượt tới 35,6 lần và COD vượt 12,3 lần.
Ở nhiều dòng sông khác như sông Thị Tính, sông Bé, sông Dinh, sông Ray hay sông Thị Vải, chất lượng nước nhìn chung ổn định hoặc có cải thiện. Tuy nhiên, Amoni và các chất hữu cơ vẫn vượt quy chuẩn tại không ít vị trí, cho thấy ô nhiễm chưa được giải quyết triệt để mà chỉ khác nhau về mức độ.
Trong khi đó, các hồ phục vụ cấp nước sinh hoạt như Đá Đen, Sông Ray và nhiều hồ chứa khác vẫn duy trì chất lượng nước rất tốt với WQI từ 91 đến 100. Đây là tín hiệu tích cực, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo vệ nghiêm ngặt các vùng bảo hộ vệ sinh nguồn nước để tránh lặp lại tình trạng ô nhiễm như nhiều tuyến sông, kênh rạch nội đô.
Theo thống kê, tổng lưu lượng nước thải xả vào sông, hồ trên địa bàn TP Hồ Chí Minh lên tới hơn 807.800 m³ mỗi ngày đêm. Kèm theo đó là tải lượng ô nhiễm rất lớn với COD khoảng 1,849 triệu tấn mỗi năm; BOD5 khoảng 744 nghìn tấn; Amoni hơn 38.600 tấn; tổng Nitơ hơn 652 nghìn tấn và tổng Photpho gần 25.500 tấn mỗi năm.
Riêng khu vực TP Hồ Chí Minh trước sáp nhập đã phát sinh hơn 450.000 m³ nước thải mỗi ngày từ sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi, dịch vụ, trồng trọt và nuôi trồng thủy sản. Đây vẫn là nguồn gây áp lực lớn nhất đối với chất lượng nước mặt.
Tại khu vực tỉnh Bình Dương cũ, các nguồn thải điểm gồm 29 khu công nghiệp, 12 cụm công nghiệp và hơn 5.000 cơ sở sản xuất công nghiệp nằm ngoài khu công nghiệp, cụm công nghiệp có lưu lượng nước thải khoảng 241.000 m3/ngày, với tải lượng các chất ô nhiễm: COD là 4.124,5 tấn/năm, BOD5 là 1.788,5 tấn/năm, Amoni là 292 tấn/năm, tổng Nitơ là 1.423,5 tấn/năm và tổng Photpho là 328,5 tấn/năm.
Ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ, kết quả điều tra, khảo sát thực tế ghi nhận 189 nguồn thải điểm có lưu lượng xả thải từ 5 m3/ngày trở lên với tổng lưu lượng xả thải khoảng 78.220 m3/ngày, tải lượng các chất ô nhiễm gồm: BOD5 là 393,601 tấn/năm, COD là 557,665 tấn/năm, NH4+ là 33,160 tấn/năm, tổng Nitơ là 311,969 tấn/năm và tổng Photpho là 36,180 tấn/năm…
Hành động để cứu lấy những dòng sông
Một thực tế đáng lo ngại khác là khả năng tiếp nhận nước thải của nhiều dòng sông đã gần như chạm ngưỡng. Theo kết quả đánh giá sức chịu tải, có tới 64 trong tổng số 65 tuyến sông tại khu vực TP Hồ Chí Minh trước sáp nhập không còn khả năng tiếp nhận thêm ô nhiễm đối với chỉ tiêu BOD5 và COD. Có 31/65 tuyến sông cũng không còn khả năng tiếp nhận thêm Amoni. Điều này đồng nghĩa, nếu tiếp tục gia tăng xả thải mà không có biện pháp kiểm soát, nguy cơ suy giảm chất lượng nước sẽ diễn ra nhanh hơn.
Đó cũng là lý do UBND TP Hồ Chí Minh đặt mục tiêu kiểm soát chặt nguồn thải, từng bước phục hồi chất lượng nước mặt trong giai đoạn 2026-2030.
Thành phố phấn đấu đến năm 2030, 80% nước thải đô thị được thu gom và xử lý tập trung; 85-90% điểm quan trắc trên lưu vực sông Đồng Nai đạt WQI từ mức trung bình trở lên; 100% khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn và 100% cơ sở thuộc diện bắt buộc phải lắp đặt quan trắc tự động sẽ truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, thành phố sẽ không cấp phép đối với những dự án xả nước thải trực tiếp vào các nguồn nước đã hết khả năng chịu tải, trừ trường hợp có công nghệ xử lý đạt quy chuẩn hoặc tái sử dụng hoàn toàn nước thải. Đồng thời, công tác hậu kiểm, thanh tra đột xuất các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm sẽ được tăng cường, kết hợp với việc yêu cầu các doanh nghiệp lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động, liên tục.
Song song đó là đầu tư mạnh hơn cho hệ thống thu gom và xử lý nước thải, nạo vét, cải tạo kênh rạch, quản lý nghiêm hành lang bảo vệ nguồn nước, hạn chế tình trạng lấn chiếm và xả rác xuống sông. Thành phố cũng tiếp tục duy trì mạng lưới 254 điểm quan trắc chất lượng nước, số hóa dữ liệu, nâng cấp hệ thống cảnh báo và công khai thông tin môi trường để người dân cùng giám sát.
Thành phố cũng yêu cầu rà soát các cơ sở có nguy cơ xảy ra sự cố môi trường, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải, đẩy mạnh phân loại rác tại nguồn, chấm dứt tình trạng xả rác xuống sông, kênh rạch và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng trong bảo vệ môi trường.