Thảm họa môi trường lớn nhất thế kỷ 20: Quả bom dioxid carbon

Những nhà nghiên cứu núi đá vôi cho rằng, khí dioxid carbon (CO2) có nguồn gốc từ dung nham núi lửa đã tích lũy trong lớp bùn trầm tích dưới đáy hồ từ năm này qua năm khác cho đến khi nó được giải phóng bởi những lý do chưa xác định.

Những giả thuyết

Trước giả thuyết núi lửa nằm dưới hồ Nyos hoạt động trở lại, phóng thích khí lưu huỳnh giết chết nhiều người, một số chuyên gia đã nhanh chóng bác bỏ bởi lẽ nếu núi lửa Nyos thức giấc thì những trạm quan sát địa chấn nằm ở biên giới giữa Cameron và Tchad, Nigeria - là những quốc gia gần nơi xảy ra thảm họa nhất sẽ phải ghi nhận nhưng các trạm ấy đều báo cáo không có gì bất thường vào đêm 21-8.

Tiến sĩ Von Wagner nói tiếp: “Nếu núi lửa Nyos phun trào thì trước đó, chắc chắn phải có những rung động lớn bởi lẽ dung nham trong lòng núi lửa với áp lực cao, sẽ đẩy lớp đất đá bịt kín miệng núi để lấy chỗ cho nó thoát ra. Vậy mà đồ đạc trong nhà của cư dân làng Nyos lại chẳng hề bị dịch chuyển. Điều lạ lùng hơn nữa là theo những người còn sống, họ không hề thấy chim chóc từng đàn bay đi chỗ khác, chó sủa inh ỏi, bò kêu thảm thiết như vẫn thường thấy xảy ra vài ngày trước khi núi lửa hoạt động. Bên cạnh đó, tất cả đèn dầu trong nhà họ đều bị tắt dù nhiều đèn vẫn còn dầu”.

Nước hồ Nyos chuyển sang màu đỏ sau khi xảy ra vụ nổ bất thường.
Nước hồ Nyos chuyển sang màu đỏ sau khi xảy ra vụ nổ bất thường.

Với cư dân địa phương, những người sống sót ở làng Nyos, họ cho rằng thảm họa xảy ra chỉ vì hội đồng làng đã không thực hiện đúng lời di chúc của người đứng đầu hội đồng - gọi là Kwifon. Theo di chúc này thì trước khi chết, Kwifon đã chỉ định một con bò để làm lễ hiến tế các vị thần linh ở hồ Nyos. Tuy nhiên, năm 1983, lúc Kwifon chết, người thân trong gia đình ông do tiếc con bò nên đã thay thế bằng một miếng thịt. Vì thế, dân Nyos tin rằng gần 2.000 người chết, hơn 4.000 gia súc cũng chẳng còn là vì cơn thịnh nộ của Kwifon.

Lại có một giả thuyết nữa: Thảm họa xảy ra do một quả bom được thử nghiệm giữa quân đội Israel và quân đội Cameron ngay trên hồ Nyos vào đêm 21-8. Khi bom nổ, nó phóng thích ra chất gây ngạt thở. Những người đưa ra giả thuyết này khẳng định chỉ vài tiếng đồng hồ sau thảm họa, quân đội Israel đã có mặt ở những ngọn đồi xung quanh hồ Nyos, ngay cả trước khi thông tin về vụ chết người hàng loạt được báo về cho các cơ quan chức năng ở thị trấn Wum.

Đi tìm nguyên nhân

Bảy tháng sau khi xảy ra thảm họa, từ ngày 16 đến ngày 20-3-1987, tổng thống Cameron là ông Paul Biya đã tổ chức một hội nghị quốc tế tại thành phố Jaunde, với sự tham dự của hơn 100 nhà khoa học và các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, đến từ Mỹ, Anh, Đức, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Pháp…, cùng với những nhà khoa học Cameron nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân cái chết của gần 2.000 người và gần 4.000 con gia súc.

Khí CO2 theo đường ống phụt lên, cao gần 20m với tốc độ 185km/giờ.
Khí CO2 theo đường ống phụt lên, cao gần 20m với tốc độ 185km/giờ.

Hai ngày đầu tiên của hội nghị, những cuộc tranh cãi gay gắt đã nổ ra. Bước sang ngày thứ ba, các nhà khoa học chia thành 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu núi lửa và nhóm nghiên cứu núi đá vôi. Theo nhóm nghiên cứu núi lửa thì đây là một vụ phun trào không liên quan đến dung nham mà chỉ có khí lưu huỳnh nóng sôi bốc lên rồi thoát ra khỏi mặt nước, dẫn đến hậu quả dân cư sống quanh hồ chết vì ngộ độc lưu huỳnh.

Ngược lại, nhóm nghiên cứu núi đá vôi cho rằng, khí dioxid carbon (CO2) có nguồn gốc từ dung nham núi lửa đã tích lũy trong lớp bùn trầm tích dưới đáy hồ từ năm này qua năm khác cho đến khi nó được giải phóng bởi những lý do chưa xác định.

Chỉ duy nhất có Tiến sĩ Adams Smith, đến từ Viện Địa chất Ohio, Mỹ, thì quả quyết rằng chính trận mưa lớn đêm 21-8 là tác nhân dẫn đến hiện tượng khí CO2 thoát ra ngoài. Và vì CO2 nặng gấp 1,5 lần không khí nên khi thoát ra, nó nhanh chóng chìm xuống sát mặt đất. Điều đó lý giải vì sao những người nằm ngủ ở dưới thấp đều chết hết, trong lúc những người nằm trên cao chỉ bị ho, khó thở, choáng váng, nhức đầu.

Tiến hành khảo nghiệm, cả hai nhóm lấy mẫu nước hồ Nyos ở nhiều độ sâu khác nhau. Qua phân tích, màu đỏ của nước hồ là do chất sắt, thường chỉ có ở dưới đáy nhưng vì một nguyên nhân nào đó đã khiến lớp trầm tích ở đáy hồ bị đảo lộn, sắt nổi lên, phản ứng với oxy tạo thành màu đỏ. Chưa hết, nồng độ khí CO2 trong nước hồ cũng rất cao.

Tiến sĩ Adams Smith nói: “Mẫu nước lấy ở độ sâu 15 m chứa lượng CO2 lớn đến nỗi khi chúng tôi vừa đưa lên khỏi mặt nước thì nó liền hình thành các bong bóng, giống như mở nắp một chai soda. Ở độ sâu 182m, do áp lực của CO2 quá lớn, thiết bị lấy nước không hoạt động được vì bị hỏng…”.

Giải cứu hồ Nyos

Lúc này, nhận định của nhóm nghiên cứu núi đá vôi có vẻ đã gần sát với thực tế nhưng phải mất hơn 1 năm sau đó, qua rất nhiều những khảo sát, thí nghiệm, các nhà khoa học mới tìm ra nguyên nhân.

Trong bản báo cáo của mình, Tiến sĩ Minoru Kusakabe, giảng viên Bộ môn Hóa, Đại học Okayama, Nhật Bản, viết: “Các khảo sát cho thấy từ hàng trăm năm nay, khí CO2 đã hòa tan trong nước hồ Nyos với hàm lượng rất lớn. Ở độ sâu 200m, 1 lít nước có từ 3 đến 5 lít CO2. Và bởi vì những vách núi đá bao quanh hồ đã che chắn gió nên mặc dù khu vực này có khí hậu nhiệt đới, nóng quanh năm, nhưng nhiệt độ nước trong hồ vẫn có sự đồng nhất từ trên bề mặt xuống dưới đáy. Hơn nữa, do hồ quá sâu nên ngay cả khi nhiệt độ nước trên bề mặt thay đổi thì nó cũng không thể tác động đến vùng đáy. Sự tĩnh lặng của nước hồ Nyos chính là nguyên nhân khiến nó trở nên vô cùng nguy hiểm”.

Một nông dân làng Nyos bất lực nhìn xác những con bò của mình chết vì thảm họa.
Một nông dân làng Nyos bất lực nhìn xác những con bò của mình chết vì thảm họa.

Với Giáo sư George Kling, nhà nghiên cứu khoa học về hồ thuộc Đại học Michigan, Mỹ, thì: “Chẳng riêng gì hồ Nyos, hồ nào cũng có khí CO2. Dưới tác động của mưa, gió, không khí lạnh, lớp nước trên mặt hồ giảm nhiệt độ, trở nên đặc và nặng hơn nên nó chìm xuống đáy, thế chỗ cho nước ấm và nước chứa khí CO2 khiến CO2 bị đẩy lên bề mặt, tạo thành những bong bóng rồi tan đi. Tuy nhiên với hồ Nyos, mặc dù núi lửa dưới hồ từ lâu đã không phun trào nhưng dung nham vẫn còn hoạt động trong lòng đất, và vẫn phóng thích khí CO2. Ở độ sâu 200m, toàn bộ lượng nước phía trên đã tạo ra một lực đè rất lớn, khí CO2 không thể đi lên mặt hồ rồi bốc hơi mà nó hòa tan vào tầng nước dưới đáy. Đến một lúc nào đó, lượng CO2 bão hòa thì nó sẽ bị đẩy lên trên, nơi áp suất thấp hơn. Khi đó, chỉ cần một thay đổi trên mặt hồ - chẳng hạn như một vụ lở đất, một trận gió mạnh hoặc một cơn mưa lớn, phá vỡ tầng áp suất thấp là toàn bộ khí CO2 tích tụ dưới đáy hồ qua hàng thập kỷ sẽ phun lên theo kiểu hiệu ứng ống khói, dây chuyền”.

Để chứng minh giả thuyết này, nhóm nghiên cứu núi đá vôi, đứng đầu là Tiến sĩ Minoru Kusakabe và kỹ sư Halbwachs đã tiến hành một thí nghiệm bằng cách đặt một đường ống xuống đáy hồ. Trước đó, nhiều phương án được nêu ra, chẳng hạn như thả một quả bom xuống hồ nhằm phá vỡ cấu trúc CO2 nhưng cách này quá nguy hiểm bởi không ai biết rõ lượng khí còn lại là bao nhiêu, hoặc đào một đường hầm từ cách hồ 50m, đi xuống đáy hồ rồi hút nước có CO2 ra chỗ khác, hoặc đổ vôi xuống hồ để trung hòa khí CO2 nhưng cả hai cách ấy tốn rất nhiều tiền.

Tiến sĩ Minoru Kusakabe nói: “Các khảo sát, đo đạc cho thấy thảm họa xảy ra đêm 21-8 đã giải phóng khoảng 1,6 triệu tấn khí CO2. Lượng khí này dày 50m, bốc lên cao chừng 1,5km do áp suất đẩy rồi chìm xuống sát mặt đất và lan xa 23km với tốc độ 70 đến 85km/giờ. Phải mất 2 tiếng sau, nó mới loãng đi rồi hòa tan trong không khí. Đó cũng là nguyên nhân khiến người, súc vật, côn trùng ở gần mặt đất đều chết hết. Với những người còn sống, hoặc là họ ở trên cao, hoặc họ ở trong nhà nhưng cửa sổ, cửa chính đều đóng kín. Lúc CO2 đi qua khe cửa lọt vào nhà thì chỉ những ai đang nằm gần mặt đất mới chết, còn nếu nằm trên gác hoặc lúc ấy đang đứng, họ chỉ bị nhức đầu, khó thở và chóng mặt”.

Là một loại khí không màu, không mùi, CO2 chỉ để lại vị chua trong miệng nếu hít phải nó. Thông thường, không khí chứa 0,05% CO2 nhưng nếu tăng lên 30% , nó gây chết người còn với 5%, nó khiến lửa không cháy được. Điều  này lý giải vì sao tất cả những ngọn đèn dầu và các bếp lửa trong nhà nạn nhân đều bị tắt.

CO2 sinh ra từ khói của động cơ xe hơi, máy bay, tàu thủy, tàu hỏa và các loại máy công cụ khác. Nó cũng sinh ra từ việc đốt cháy than, củi, hoặc từ các nhà máy công nghiệp và đồng thời cũng là cũng là sản phẩm tự nhiên trong quá trình thay đổi địa chất. Hiện tượng “ấm lên toàn cầu” cũng phát xuất từ những nguyên nhân này.

Trở lại với thí nghiệm của Tiến sĩ Minoru Kusakabe, sau khi đã hoàn tất một chiếc bè làm từ những khung sắt, đáy kết phao, trên phà có một giàn khoan - loại tương tự như giàn khoan dầu nhưng nhỏ hơn, được điều khiển từ xa cùng 60 ống thép đường kính mỗi ống 15cm, dài 5m, Kusakabe ra lệnh tiến hành đặt ống. Tất cả những người chứng kiến trên bờ đều phải đeo mặt nạ phòng độc, chưa kể cư dân trong phạm vi bán kính 15km đều phải tạm thời chuyển đi nơi khác xa hơn để phòng ngừa.

Tiến sĩ Minoru Kusakabe nói: “Khi đường ống xuống đến độ sâu 169m thì bất ngờ một luồng khí màu trắng đục phụt lên, cao gần 20m với tốc độ 185km/giờ. Các mẫu lấy về để kiểm tra cho kết quả là khí CO2. Từ kết quả này, chúng tôi cùng Chính phủ Cameron đã tìm được giải pháp nhằm ngăn ngừa thảm họa không xảy ra thêm lần nào nữa.”.

Nhưng phải đến tháng 3-1990, nhóm “giải cứu hồ Nyos” do kỹ sư Halbwachs dẫn đầu mới đặt một đường ống dài 182, đường kính 15m xuống gần sát đáy hồ. Tiếp theo, nước ở tầng đáy được hút  liên tục vào ống rồi phun lên để khí CO2 thoát ra ngoài. Năm 1992, họ tăng kích thước đường ống lên 20cm và năm 1995, nó là 30cm. Quá trình ấy kéo dài cho đến khi CO2 dưới đáy hồ thoát hết vào năm 1999.

Tuy nhiên, lúc các nhà khoa học lên kế hoạch xây dựng hệ thống đường ống chính thức gồm 3 ống thì Chính phủ Cameroon cho biết họ không có tiền, trong lúc theo Tiến sĩ Minoru Kusakabe: “Các cơ quan viện trợ quốc tế  thường bỏ tiền ra để cứu trợ khi thảm họa đã xảy ra, hơn là tìm cách ngăn chặn hoặc hạn chế nó”.

Cuối cùng, năm 1999, Văn phòng Trợ giúp khẩn cấp (OFDA) của Mỹ đồng ý viện trợ 433.000USD để lắp đặt đường ống cố định.

Đầu năm 2001, 3 đường ống được đặt sâu xuống hồ Nyos, lần lượt là 176m, 185m và 192m. Cho đến năm 2015, nó vẫn hoạt động tốt, mức hòa tan của CO2 trong nước chỉ còn 0,07 lít/ 1 lít nước.  Giáo sư Mamar Njindoun thuộc Đại học Yaounde, Cameron, người tham gia nhóm nghiên cứu thảm họa hồ Nyos cho biết nếu không có 3 đường ống ấy, khí CO2 sẽ lại tích tụ dưới đáy hồ rồi đến một thời điểm nào đó, thảm họa vẫn lại tiếp tục xảy ra

Hiện tại, trên thế giới chỉ có 3 hồ “giết người” bằng khí CO2. Ngoại trừ hồ Nyos, 2 hồ còn lại là Monoun và Kivu nằm giữa biên giới Congo và Rwanda, châu Phi, trong đó hồ Monoun đã từng giết chết 37 người nhưng vì con số “quá nhỏ” nên chẳng ai để ý…

Vũ Cao (theo Global Witness - Lake Nyos Disaster)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.