Cần gỡ ngay điểm nghẽn về chất lượng
Ngày 20/8, Báo Tiền Phong tổ chức Tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn ngành hàng sầu riêng: "Kiến tạo xuất khẩu bền vững”.
Theo ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam cho biết, chất lượng, năng lực kiểm nghiệm, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và thủ tục thông quan đang là những điểm nghẽn lớn của ngành sầu riêng. Nếu không sớm tháo gỡ, doanh nghiệp và người trồng sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro khi xuất khẩu.
Các thị trường nhập khẩu ngày càng siết tiêu chuẩn, đặc biệt về cadimi, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và sinh vật gây hại. Trong đó, vấn đề cadimi và vàng O đã được đặt ra từ cuối năm 2024 nhưng vẫn cần hướng dẫn cụ thể, nhất là quy trình xử lý cadimi trong đất nhằm hạn chế nguy cơ tồn dư trong sản phẩm.
Ông Bình cho rằng, cần kiểm soát chất lượng ngay từ đầu vào, vùng trồng và quá trình sản xuất, thay vì chờ đến khi thu hoạch hoặc chuẩn bị xuất khẩu mới kiểm tra. Doanh nghiệp hiện phải đối mặt với rủi ro lớn khi mua hàng, thanh toán cho nông dân, đóng container rồi mới kiểm nghiệm. Nếu phát hiện không đạt chuẩn, toàn bộ chi phí có thể dồn lên doanh nghiệp.
“Chúng ta nên tham khảo cách làm của Thái Lan, trong đó cơ quan quản lý nắm thời điểm thu hoạch, danh sách hộ dân và vùng trồng; chỉ những vùng đáp ứng yêu cầu mới được thu hoạch. Cách làm này sẽ giảm rủi ro và nâng cao niềm tin trong chuỗi xuất khẩu”, ông Bình chia sẻ.
Năng lực kiểm nghiệm cũng cần được tăng cường. Việt Nam hiện có 50 cơ sở kiểm nghiệm được Trung Quốc công nhận, nhưng tại các vùng sản xuất lớn, đặc biệt Tây Nguyên, cơ sở kiểm nghiệm vẫn thiếu. Việc phải vận chuyển mẫu đi xa, chờ kết quả lâu làm tăng chi phí và ảnh hưởng tiến độ xuất khẩu. Vì vậy, cần chính sách khuyến khích đầu tư thêm các phòng kiểm nghiệm tại vùng sản xuất tập trung.
Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và kiểm định, đồng thời hướng dẫn rõ việc truy xuất nguồn gốc quốc gia đối với sầu riêng đã triển khai từ ngày 1/7. Người dân, doanh nghiệp cần được hỗ trợ để biến quy định này thành công cụ quản lý thực chất, thay vì thêm một thủ tục hành chính.
Cần tiếp tục cải thiện thủ tục thông quan, xây dựng “luồng xanh”, cửa khẩu thông minh và kết nối với Hải quan Trung Quốc. Về lâu dài, hai nước cần hướng tới công nhận kết quả kiểm nghiệm của nhau, thống nhất tiêu chuẩn và phương pháp, qua đó giảm kiểm tra trùng lặp, rút ngắn thời gian thông quan và giảm chi phí cho xuất khẩu sầu riêng.
Cũng liên quan đến việc quản lý chất lượng sầu riêng, ông Nguyễn Văn Mười, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Nông nghiệp nhiệt đới đánh giá, điểm nghẽn hiện nay nằm ở khâu tổ chức thực hiện chứ không hẳn nằm ở quy định pháp luật.
Không chỉ riêng sầu riêng mà đối với nông sản, đặc biệt là ngành hàng rau quả, chất lượng là vấn đề cực kỳ quan trọng. Nhưng hiện nay, cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về chất lượng nông sản? Khi xảy ra sự cố về chất lượng thì cơ quan nào giải quyết và phải giải quyết kịp thời?
Trong Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đang quản lý nhiều nội dung, trong khi Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường cũng quản lý về chất lượng. Nhưng vấn đề là đơn vị nào thực sự nắm được bức tranh tổng thể và có kế hoạch giảm rủi ro về chất lượng?
“Hiện nay, chúng ta vẫn chưa thấy một đơn vị nào đứng ra công bố rõ chất lượng nông sản, chất lượng rau quả của Việt Nam đang ở mức nào và đến thời điểm nào chúng ta cơ bản bảo đảm được chất lượng. Đây là vấn đề cần có địa chỉ, cần có cơ quan chịu trách nhiệm và có lộ trình thực hiện. Tôi chốt lại một vấn đề: Để giải quyết các điểm nghẽn, chúng ta phải phân công đúng người, đúng việc, đúng nhiệm vụ. Khi phân công đúng thì mọi thứ sẽ được giải quyết", ông Mười nhấn mạnh.
Minh bạch vùng trồng không nhiễm Cadimi
Đúng về phía doanh nghiệp sản xuất, ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch kiêm TGĐ Vina T&T Group, thời gian qua, câu chuyện về Cadimi trong sầu riêng, đặc biệt tại một số vùng như Đắk Lắk, hay những thông tin liên quan đến sầu riêng ở Đồng bằng sông Cửu Long được đề cập nhiều. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rõ vấn đề ở từng vùng, từng trường hợp cụ thể.
Xuất khẩu trái cây tươi, đặc biệt là sầu riêng, là lĩnh vực có rủi ro cao vì khi xảy ra sự cố gần như không có thời gian để sửa sai. Chỉ cần một vấn đề trong quá trình kiểm tra, logistics hay thông quan, hàng trăm container có thể phải quay đầu, không thể tiêu thụ do đặc thù sầu riêng cần thời gian chín. Do đó, cần đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ chế biến, đặc biệt là công nghệ cấp đông.
Thời gian qua, khi gặp khó khăn về kiểm nghiệm, nhiều sản phẩm sầu riêng đã được đưa vào cấp đông để xuất khẩu sang châu Âu, Mỹ và các thị trường khác. Nếu không có hệ thống cấp đông, ngành hàng sầu riêng sẽ rất dễ bị ảnh hưởng khi gặp các vấn đề phát sinh. Vì vậy, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này. Một vấn đề khác là câu chuyện thông quan.
Hiện nay, phần lớn sầu riêng vẫn xuất khẩu bằng đường bộ, trong khi vận chuyển bằng đường biển chưa phát triển tương xứng. Việc kiểm dịch tại các cảng của Trung Quốc hiện còn những khó khăn nhất định, khiến doanh nghiệp phải lựa chọn đường bộ dù chi phí cao hơn. Có những trường hợp doanh nghiệp phải chấp nhận chi phí vận chuyển khoảng 3.000-4.000 USD cho một chuyến xe thay vì đi container đường biển với chi phí thấp hơn.
Vì vậy, cần có sự phối hợp giữa hải quan Việt Nam và hải quan Trung Quốc, kết nối dữ liệu để tạo luồng xanh cho hàng hóa xuất khẩu, giảm rủi ro kiểm tra lại. Nếu phát triển được vận tải biển, doanh nghiệp sẽ giảm áp lực rất lớn cho các cửa khẩu phía Bắc.
Năm 2015, cả nước mới có khoảng 31.000 ha sầu riêng. Đến năm 2020, diện tích tăng lên trên 70.000 ha. Chỉ trong giai đoạn 2020-2025, diện tích đã tăng gần gấp 3 lần, đạt khoảng 195.000 ha vào cuối năm 2025. Song song với đó, sản lượng cũng tăng rất nhanh, từ khoảng 600.000 tấn năm 2020 lên 1,8 triệu tấn năm 2025 và dự kiến vượt 2 triệu tấn trong năm 2026.
Ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp & Môi trường cho rằng, sự phát triển quá nhanh, thậm chí có thể gọi là "quá nóng", đã bộc lộ nhiều khó khăn trong quản lý, sản xuất và tiêu thụ sầu riêng.
Về mã số vùng trồng, cần nhìn lại câu chuyện liệu quá trình này đã thực sự được đơn giản hóa hay chưa. Mã số vùng trồng là yêu cầu gắn với xuất khẩu, trong đó thị trường nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát và phê duyệt. Đồng thời, khi thực hiện số hóa mã số vùng trồng cần tính đến đặc điểm sản xuất hiện nay, bởi số lượng hộ dân đủ sản lượng để tự cung cấp một container xuất khẩu là rất ít.
Việc tăng thêm vai trò quản lý của địa phương là cần thiết, nhưng cũng cần chuẩn bị kỹ về năng lực thực hiện. Nếu quy trình quản lý phát sinh thêm nhiều yêu cầu, thủ tục mà địa phương và người dân chưa sẵn sàng thì sẽ tạo thêm rào cản cho doanh nghiệp. Mã số vùng trồng chính là "tấm hộ chiếu" để hàng hóa xuất khẩu. Vì vậy, việc quản lý cần chặt chẽ, nhưng đồng thời phải rõ ràng, thuận lợi để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân có thể thực hiện hiệu quả.