Phát biểu tại cuộc họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng đầu năm 2026, sáng 3/10, tại Hà Nội, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho biết, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, kinh tế - xã hội quý 3 và 9 tháng năm 2026 tiếp tục đạt được kết quả tích cực.
Cụ thể, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tính tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II.
Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%; khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.
Về sử dụng GDP quý III/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,75%.
GDP 9 tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất, sản lượng lúa, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản tăng trưởng tích cực, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chín tháng năm 2026 tăng 4,02%; trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,99%, đóng góp 0,25%; ngành thủy sản tăng 4,99%, đóng góp 1,50%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá nhờ các động lực tăng trưởng được mở rộng, một số dự án có quy mô lớn đi vào hoạt động, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và tiến độ đầu tư công được đẩy mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và xây dựng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp chín tháng năm 2026 tăng 11,02% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 41,39% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu với tốc độ tăng 11,36%, đóng góp 33,85%; ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.
Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ đời sống tiếp tục tăng trưởng tích cực; nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch trong nước duy trì ở mức cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ chín tháng năm 2026 tăng 8,69% so với cùng kỳ năm trước.
Về cơ cấu nền kinh tế, trong chín tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; khu vực dịch vụ chiếm 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,33%; 37,47%; 43,05%; 8,15%).
Về sử dụng GDP 9 tháng năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,19%.
Về tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố (GRDP) 9 tháng, có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên, trong đó Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%; tiếp theo là Hà Tĩnh 12,36%; Hải Phòng 12,08%; Bắc Ninh 11,81%; Ninh Bình 11,31%. Một số địa phương có tốc độ tăng GRDP thấp: Sơn La 5,59%; Vĩnh Long 7,32%; Cà Mau 7,37%; Đồng Tháp 7,44% do sự sụt giảm của sản xuất điện và ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu kinh tế tại các địa phương này.
Nhìn chung, tăng trưởng cao tập trung chủ yếu ở các địa phương có nền tảng công nghiệp, quy mô sản xuất chế biến, chế tạo lớn, đồng thời được thúc đẩy bởi đầu tư, xuất khẩu và sự phát triển của khu vực dịch vụ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước.
CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%
Phát biểu tại họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026, sáng 3/10 tại Hà Nội, bà Nguyễn Thị Hương cho biết, CPI bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,26%.
Riêng tháng 9, CPI tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm 2025. Nguyên nhân chủ yếu là giá xăng dầu, gas trong nước tăng theo diễn biến giá nhiên liệu thế giới; cùng với đó, một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí trong năm học mới.
Theo Cục Thống kê, trong 9 tháng, nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,68%, tác động làm CPI chung tăng 1,52 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 6,06%, tác động tăng 0,6 điểm phần trăm; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,72%, tác động tăng 1,69 điểm phần trăm.
Diễn biến CPI có xu hướng tăng nhanh trong những tháng đầu năm, đạt mức cao nhất 5,6% vào tháng 5, sau đó giảm trong tháng 6 và 7 trước khi tăng trở lại trong tháng 8 và 9.
Theo Cục Thống kê, giá vàng trong nước tháng 9/2026 tăng 2,38% so với tháng trước và tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng, chỉ số giá vàng tăng 42,67% so với cùng kỳ năm 2025, trong bối cảnh giá vàng thế giới tăng do đồng USD suy yếu, lợi suất trái phiếu Mỹ giảm, dòng vốn vào các quỹ vàng gia tăng và nhu cầu trú ẩn an toàn trước những căng thẳng địa chính trị.
Trong khi đó, chỉ số giá USD trong nước tháng 9 giảm 0,69% so với tháng trước và giảm 1,34% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, bình quân 9 tháng, chỉ số giá USD vẫn tăng 1,01% so với cùng kỳ năm 2025.
Lạm phát cơ bản tháng 9 tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng, lạm phát cơ bản tăng 4,26%, thấp hơn mức tăng 4,52% của CPI. Theo Cục Thống kê, nguyên nhân chủ yếu do giá xăng dầu, gas, lương thực, thực phẩm tươi sống và dịch vụ y tế biến động, trong khi các nhóm hàng này được loại trừ khỏi danh mục tính lạm phát cơ bản.
Trước áp lực từ chi phí đầu vào, giá năng lượng và rủi ro lạm phát, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo điều hành linh hoạt chính sách tài khóa, tiền tệ, chủ động quản lý thị trường xăng dầu, bảo đảm nguồn cung hàng hóa và ổn định thị trường.