Phê bình điện ảnh bị “bỏ ngỏ”?

Nhiều năm trở lại đây, mỗi năm, Việt Nam sản xuất từ 30 phim đến 40 phim chiếu rạp nhưng phần lớn là phim nặng về giải trí và thương mại. Thậm chí, ngay với dòng nhiều phim này, số nhà sản xuất phim duy trì hoạt động lâu dài, có phim phát hành mang về doanh thu cao chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.

Xu hướng thương mại hóa các giá trị truyền thống của điện ảnh kéo theo sự lệch chuẩn, đánh mất định hướng phát triển. Một trong số các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là hoạt động lý luận, phê bình không giữ được vị trí, vai trò như cần có trong đời sống điện ảnh.

Điện ảnh Việt Nam ngày càng thiếu những bộ phim hay và mặt trái xã hội tràn ngập màn ảnh. Trong mỗi phim, chúng ta có đủ các thứ như phim nước ngoài nhưng cái thiếu nhất, mà phim nào cũng thiếu là tư tưởng của bộ phim. 

“Hai Phượng” – một trong số các phim Việt vừa thành công về truyền thông, vừa thành công về doanh thu mà ít gây tranh cãi.
“Hai Phượng” – một trong số các phim Việt vừa thành công về truyền thông, vừa thành công về doanh thu mà ít gây tranh cãi.

Người xem không cảm nhận được vẻ đẹp của nhân vật, vẻ đẹp của câu chuyện bởi tất cả các nhà làm phim, nghệ sĩ đều đang lấy doanh thu là mục đích chính, làm phim chỉ là phương tiện kiếm tiền. Và, phương tiện dễ nhất là khai thác những mặt trái của con người và xã hội. Những cái khác như tinh thần tác phẩm, sức truyền cảm của nhân vật… đều trở nên khan hiếm, xa xỉ. Đó là khẳng định của nhà phê bình Đoàn Minh Tuấn khi bàn về thực trạng điện ảnh Việt Nam hiện nay.

Về vấn đề này, TS Ngô Phương Lan, nguyên Cục trưởng Cục Điện ảnh, hiện nay là Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến và Phát triển Điện ảnh Việt Nam thẳng thắn chỉ ra rằng, dù mỗi năm có đến 40 bộ phim truyện điện ảnh ra đời và mỗi lần phim ra rạp, nhất là phim “thương mại”, là một lần tưng bừng từ rạp chiếu đến các ấn phẩm báo chí. 

Sự tưng bừng ấy không liên quan đến chất lượng phim mà chủ yếu phụ thuộc vào kinh phí ít hay nhiều của nhà sản xuất, phát hành phim và đội ngũ làm truyền thông. 

Có những bộ phim công chiếu, dư luận ồn ào, kẻ khen, người chê, thậm chí có trường hợp vì lý do nào đó, có thể ngoài tác phẩm, một số tờ báo và mạng xã hội “đánh hội đồng” khiến công chúng hoang mang, không biết đâu là giả, đâu là thật. Các nhà phê bình lại ít khi có ý kiến hoặc có lên tiếng cũng bị cơn lốc dư luận và các “anh hùng bàn phím” bủa vây. Phê bình điện ảnh yếu ớt bởi đội ngũ làm công việc này rất thiếu. 

Nhiều chục năm trước, thỉnh thoảng có một vài sinh viên được đào tạo về lý luận, phê bình điện ảnh ở nước ngoài. Đáng tiếc là một số người đã làm công tác quản lý ở các trường, Viện lưu trữ phim, hãng phim, Cục Điện ảnh… nên không còn thời gian và sức lực cho hoạt động phê bình điện ảnh. 

Với đào tạo trong nước, chỉ có một cơ sở đào tạo chuyên ngành Lý luận phê bình điện ảnh chính quy là trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội nhưng rất ít sinh viên đăng ký học. Đã có những khóa, nhà trường không thể tuyển sinh vì quá ít người đăng ký. 

Mùa tuyển sinh năm 2019, trường chỉ tuyển được 3 sinh viên theo Lý luận, phê bình nên phải hoãn khóa học. Chưa kể, sinh viên học xong khó có thể sống được bằng nghề, phải làm công việc khác kiếm sống. 

Vài thập kỷ qua, rất hiếm thấy cây bút phê bình điện ảnh qua đào tạo của các trường khẳng định được tên tuổi. Tuy nhiên, nguyên nhân mấu chốt nhất là sự ngại ngùng, thậm chí thiếu bản lĩnh của những người viết phê bình điện ảnh. 

Phê bình cần một sự thẳng thắn, dám đi tới cùng để bảo vệ cái chuẩn nhưng phê bình thực sự dễ khiến “mất lòng”, thậm chí “gây thù chuốc oán”. Bởi, một bộ phim làm ra cần cả chục tỉ đồng. Nhà phê bình chê phim có thể ảnh hưởng đến doanh thu của nhà sản xuất. 

Ngay bản thân TS Ngô Phương Lan cũng từng viết bài phê bình phim khá đều đặn nhiều năm trước, song vì bận rộn công việc quản lý, vì ngại ngần, không muốn va chạm, đôi lúc thấy bất lực trước sự quay cuồng của dư luận theo xu hướng thương mại hóa nên ít viết dần. Dù rằng, bản thân ý thức rất rõ, khi phê bình điện ảnh bị bỏ quên sẽ góp phần làm cho xu hướng thương mại hóa các giá trị của điện ảnh ngày càng trầm trọng, kéo theo sự lệch chuẩn, đánh mất định hướng.

PGS.TS Trần Luân Kim cũng cho rằng, lực lượng chủ lực hoạt động trong lĩnh vực phê bình điện ảnh hiện nay là báo chí và chủ yếu đáp ứng nhu cầu của công chúng về mặt thông tin. Các bài viết thường nhận xét tập trung vào phần văn học của tác phẩm điện ảnh, giới thiệu các gương mặt nổi bật, thiếu phần bàn luận chuyên môn và định hướng sáng tác. 

Vì phê bình điện ảnh hời hợt, cầm chừng, thiếu chuyên nghiệp, không gắn với lý thuyết chuyên ngành nên ít tác dụng đối với đời sống điện ảnh của đất nước. Chưa kể có những bài báo, do không đủ tri thức đã đưa ra những nhận định mâu thuẫn, trái ngược nhau, gây phức tạp dư luận. 

Trên các trang mạng xã hội không ít bài viết cẩu thả, thiếu kiến thức, thậm chí thể hiện xu hướng lệch lạc, bài bác truyền thống văn hóa dân tộc, cổ vũ học đòi lai căng. Điều đó cho thấy tình trạng trì trệ, chậm trễ, bị động và một phần bất lực của hoạt động phê bình phim.

Để chỉnh đốn, phát triển thực chất hoạt động phê bình phim chuyên nghiệp cũng như phê bình phim công luận, cần đặc biệt quan tâm đến đội ngũ làm phê bình điện ảnh. 

Ngoài đẩy mạnh đào tạo chính quy, chuyên ngành, nên tập hợp những “cây bút” hiện có theo những phương thức phù hợp và tăng cường hoạt động. Với phóng viên, cần mở các khóa bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ điện ảnh ngắn ngày, theo dạng thức thích hợp. Cần xây dựng hệ thống chuẩn giá trị thẩm mỹ phù hợp với thời đại ngày nay, đề cao tiêu chí bản sắc dân tộc cũng như tạo được tiếng nói chung với nhân loại. 

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cơ quan quản lý văn hóa nghệ thuật các địa phương cần tăng cường bám sát hoạt động thực tiễn một cách kịp thời, xử lý rốt ráo các vướng mắc phát sinh, quản lý và hỗ trợ thiết thực cho hoạt động chuyên ngành cũng như công tác phê bình điện ảnh, PGS.TS Trần Luân Kim kiến nghị.

N.Nguyễn

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.