Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ: Biết mình còn mắc nợ đóa phù dung

Sắp bước vào tuổi cổ lai hy, nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ mắc bệnh mất trí nhớ, mà y học gọi là alzheimer. 

Không còn nhận ra người quen, không còn bận tâm chuyện gì, nữ sĩ lừng danh ở xứ Huế mộng mơ một thời, bây giờ ngồi ngơ ngác giữa căn hộ chung cư Sài Gòn ngột ngạt như chìm khuất trong câu thơ thuở nào chị viết “Ước gì ta được là sông/ Để ra đến biển là không còn mình”.

Alzheimer là căn bệnh phổ biến ở người già. Với người nọ có thể là họa nhưng với người kia có thể là phúc. Không ai được quyền thay mặt nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ trả lời đó là phúc hay họa, nhưng sự suy tàn của trí nhớ cũng giống như sự giải thoát khỏi những dằn vặt và những đắng cay. 

Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ có hài lòng với sự phản vệ ấy của số phận nhiều thăng hoa lắm lận đận ấy chăng? 

Không rõ, nhưng nhìn chị bây giờ chẳng còn nôn nao “hái tuổi em đầy tay” và chẳng còn bồi hồi “đề tặng một giấc mơ”, sao cứ thấy thấm thía hơn những câu thơ chị từng viết: “Đời sống chật chội ơi/ Hạnh phúc dịu dàng ơi/ Thời gian một đời người không lặp lại/ Một ngày ta dần mất ta/ Từng chút, từng chút một...”.

Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ sinh ra và lớn lên ở Lệ Thủy (Quảng Bình). Tuổi 20, chị bắt đầu xuất hiện trên thi đàn bằng những Ý nghĩ rộn ràng: “Những cơn mưa/ Quen mà rất lạ/ Mưa chải dài cây lá/ Đọng ngấn tròn bâng khuâng/ Mưa đi đâu về đâu/ Chẳng ai biết nữa/ Chỉ biết sau cơn mưa/ Trời không còn vôi vữa/ Chỉ biết sau cơn mưa/ Mặt đất thành mới mẻ/ Con gà đi nhặt thóc/ Nắng lại vàng trên đồng/ Cây đâm chồi nẩy lộc/ Cát nhìn thêm mênh mông”

Rồi tại cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1972-1973, nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ được trao giải nhất, mà chùm thơ 4 bài của chị tạo ấn tượng mạnh mẽ với Khoảng trời, hố bom

Bài thơ được cảm tác từ sự hy sinh của một cô gái thanh niên xung phong làm nhiệm vụ mở đường: “Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em/ Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ/ Đất nước mình nhân hậu/ Lấy nước trời xoa dịu vết thương đau/ Em nằm dưới đất sâu/ Như khoảng trời đã nằm yên trong đất/ Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng/ Những vì sao ngời chói, lung linh/ Có phải thịt da em mềm mại trắng trong/ Đã hóa thành những làn mây trắng/ Và ban ngày khoảng trời ngập nắng/ Đi qua khoảng trời em - Vầng dương thao thức/ Hỡi mặt trời, hay chính trái tim em trong ngực/ Soi cho tôi/ Ngày hôm nay bước tiếp chặng đường dài”.

Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ qua nét vẽ của nhà thơ Mỹ - Kevin Bowen!
Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ qua nét vẽ của nhà thơ Mỹ - Kevin Bowen!

Cái tứ độc đáo của bài thơ Khoảng trời, hố bom đã đưa nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ vào hàng ngũ những nhà thơ tiêu biểu cuối giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. 

Bài thơ Khoảng trời, hố bom làm nên thương hiệu Lâm Thị Mỹ Dạ hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, bởi tinh thần vượt lên sự khốc liệt bằng sự cao đẹp cũng hiển lộ trong nhiều bài thơ khác. 

Ví dụ, bài thơ Một cuộc đời âm vang viết về một nữ anh hùng: “Đất gầm lên rồi đất bỗng im lìm/ Chiếc hầm nổ tung, chị vỡ thành ánh sáng/ Máu xương chị đất đai tỏa rạng” hoặc bài thơ Chuyện một cô bảo mẫu nơi giao tranh gay gắt: “Tôi chạy về với các em lòng như lửa cháy/ Mắt trong veo, các em ngồi đấy/ Ôi bầy chim nhỏ của tôi!/ Chiến tranh còn là còn trẻ mồ côi”.

Giữa dòng thơ đầy nộ khí quen thuộc trong chiến tranh, nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ mang đến một giọng điệu đằm thắm, dẫu sau một trận càn dữ dội: “Đêm qua bom nổ trước thềm/ Sáng ra, trời vẫn ngọt mềm tiếng chim/ Nghe hương cây vội đi tìm/ Hai chùm ổi chín lặng im cuối vườn”, dẫu sau mất mát khôn nguôi: “Những nấm mồ xếp đều bên nhau/ Như những phím chiếc dương cầm của đất/ Rung lên những âm thanh lặng thầm không tắt/ Chỉ trái tim người mới nghe được mà thôi”. 

Đôi mắt đàn bà hiền lành và khoan dung, nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ không chỉ nhìn về đồng bào mà còn dành cho kẻ địch. 

Người lính phía bên kia không phải bản tính đã man rợ, chị nghĩ vậy và chị lý giải Khuôn mặt ẩn kín thật độ lượng: “Tôi muốn làm con nai nhỏ/ Chạy hoài dưới trời cỏ xanh/ Đừng bắt tôi đi vào rừng rậm/ Tôi sẽ hóa thành chó sói dữ dằn/ Những mưu chước lưới đời ai lường được/ Sự dối lừa/ Trá hình trong giọng lưỡi ngọt ngon/ Tôi là con nai quá đỗi ngu đần/ Đã xa đi đồng cỏ tươi xanh/ Khuôn mặt tôi khuôn mặt chó sói/ Trong hang sâu, trong bóng tối lặng thầm/ Nghe ai gọi giật mình chợt tỉnh/ Nhớ một thời trong suốt mắt nai in/ Rồi có lúc cuối đường tôi gục ngã/ Viên đạn ai găm khuôn ngực máu đầy/ Xin hãy giở dưới làn da chó sói/ Trái tim nai thắm đỏ, thơ ngây!”

Thái độ ôn hòa và ấm áp càng bộc lộ rõ hơn khi nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ có dịp đến Mỹ sau ngày hai nước nối lại quan hệ thanh bình. 

Trước Bức tường đen khắc tên 58 nghìn lính Mỹ tử trận tại Việt Nam, chị đã viết những câu nghẹn ngào chia sẻ: “Bức tường đen - Những linh hồn chết/ Bức tường đen - Những con người/ Những cuộc đời/ đã biến thành khói/ đã biến thành bụi/ đã biến thành gió/ đã biến thành sương/ đã biến thành vết thương/ Trong ngực bà - người mẹ Mỹ…/ Tôi đã đến đây bằng trái tim người Mẹ/ Khóc cùng người mẹ Mỹ mất con/ Ở đây chỉ có một màu đêm/ Những bình minh đã chết/ Tuổi trẻ đầu xanh đã chết/ Cái ác, sự ngộ nhận, niềm thơ ngây đã chết/ Những tâm hồn tắt lặng.../ Nhưng/ Hãy nhìn xem/ Những tên người đang chảy máu/ Hãy nhìn xem/ Những tên người đang chảy máu/ Hãy nhìn xem/ Bức tường đen như một vết thương/ Nằm im lặng giữa lòng nước Mỹ/ Nhức nhối/ Không bao giờ thành sẹo”.

Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ từng tâm sự về hành trình sáng tạo: “Ngày xưa khi còn rất trẻ, chỉ cần gọi một tiếng là tôi có thể lao vào nơi nguy hiểm, đó là vùng đất rất ác liệt, con đường loang lổ vết đạn bom... Tôi đã sống với những thực tế mà chính nó đã là bài thơ hùng tráng mà không cần phải lao động, sáng tạo nhiều. Còn bây giờ khi đã thành một người vợ, người mẹ, người làm thơ thì tôi không còn sống cho riêng thơ được nữa. Làm vợ, làm mẹ đã khó mà làm thơ lại càng khó hơn. Cái khổ của người làm vợ, làm mẹ là cái khổ của thân xác đồng hành cùng hạnh phúc, là cái khổ, niềm hạnh phúc có thể chia sẻ được. Còn cái khổ cũng như hạnh phúc của người làm thơ là mình tự biết mình, không ai chia, không ai gánh...”. 

Thực tế, sau năm 1975, thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nhiều băn khoăn hơn và nhiều day dứt hơn. Bởi lẽ, chính chị cũng nhận ra: “Ôi trái tim/ Sao em lại mang dáng lưỡi cày/ Để suốt đời không bao giờ yên ổn/ Để suốt đời cày lên/ Cày lên/ Đớn đau và hạnh phúc...” nên chị đành chọn lựa những phút giây xa vắng của kẻ làm thơ. 

Khi thì tư lự “Giấu bao cơn bão trong lòng/ Cây buồn đứng ngắm mênh mông biển trời”, khi thì bâng khuâng “Ước gì cầm được cô đơn/ Ném thia lia để hóa buồn thành vui”, khi thì xao xác “Bây giờ chỉ một mình ta/ Một mình ta với bao la một mình”... 

Thế nhưng, yếu tố làm nên phong cách thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là ánh mắt ngỡ ngàng trước sự sống “Nhìn lá/ Cứ ngỡ là lá ngọt/ Bởi lá tơ non mơn mởn quá chừng”, giúp cái cụ thể trở thành nồng nàn “Ăn với nhau một que kem/ Mùa đông tan ra đầu lưỡi”, giúp cái tình cờ có màu sắc xao xuyến “Đất như cô gái yêu/ Giấu bao điều chưa nói/ Bỗng nhú những mầm non/ Khi nghe mùa xuân gọi” và giúp cái dĩ vãng được cơ hội hồi sinh: “Bây chừ xa lắc buổi chợ mai/ Tuổi đã nghiêng chiều tóc đã phai/ Hỡi người bán quạt, giờ thiên cổ/ Sao gió trong tôi cứ thổi hoài”.

Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ mang trái tim đàn bà đa đoan đi giữa cuộc đời nhiều bất trắc. 

Đôi lúc chị phân định rạch ròi: “Trái tim có mấy phần buồn/ Mấy phần vui sướng, nhớ thương mấy phần/ Phần yêu em gửi cho anh/ Còn phần hy vọng em dành cho con” nhưng chị vẫn thường xuyên thảng thốt: “Trời ơi! Làm sao có được một cuộc đời/ Để cho tôi ném mình vào đó/ Mà không hề cân nhắc đắn đo/ Rằng: cuộc đời ấy còn chưa đủ”

Giữa chờ đợi và hoài nghi, giữa tin cậy và đổ vỡ, chị đành nói thật với con: “Mẹ như AQ tự đánh lừa mình để sống/ Tưởng đốt thiêu quá khứ được thành tro/ Tưởng tương lai vẫn còn dài rộng lắm/ Nào đâu hay đã gần hết chuyến đò” và chị đành nói thật với người yêu: “Từ lâu rồi/ Em không còn là của anh/ Em vùi chôn tuổi trẻ của mình/ Trên tháng ngày khô cứng/ Đôi khi giật mình/ Xót một cơn mưa đã chết/ Em đâu còn là em/ Tiên nữ trong cây/ Trinh nữ trong gai/ Ánh cầu vồng bảy sắc/ Tia nắng dịu dàng anh đuổi bắt/ Em đã thành người đàn bà khác/ Bông hoa xanh nụ tầm xuân đã khác/ Trách chi em, trách chi đời đen bạc/ Khi chính mình lắm lúc tự vùi chôn”. 

Khi chồng - nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lâm trọng bệnh, nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ đã dẹp bỏ hết mọi đam mê thi ca để toàn tâm toàn ý chăm sóc cho đấng lang quân. 

Trong bài thơ Dù năm dù tháng, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng thổn thức “Anh hái cành phù dung trắng/ Cho em niềm vui cầm tay”, nên chị đã hồi đáp bằng bài thơ Buổi sáng trong vườn viết tháng 6-2000: “Choàng mở mắt cánh hồng rưng ngấn lệ/ Biết mình còn mắc nợ đóa phù dung”.

Nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ quan niệm: “Thơ là cái mới mẻ trong cái bình thường, thấy nó đã khó, mà diễn tả được nó càng khó. Người ta chỉ đạt đến thơ như khi một quả trứng nóng bức tới mức tự nó phải tách vỏ nở ra đời sống - một đời sống sinh động, có hình hài. Nếu vội vã bóc lớp vỏ đi khi chưa đến độ thì sẽ chẳng bao giờ đạt đến thơ mà chỉ có những ngôn từ chết. 

Vì vậy, có được một bài thơ hay vô cùng khó. Muốn có thơ hay theo tôi là phải sống thật với chính mình”. Chị đã sống thật, đã vượt qua không ít bẽ bàng, đã vượt qua không ít buồn thương để gắn bó với thơ, để nặng trĩu với thơ. 

Một trong những bài thơ cuối cùng của chị là Tôi về với tôi viết ngày 18-8-2004, chứng minh đầy đủ phẩm chất một người đàn bà đức hạnh: “Thơ như máu thắm/ Tan vào hư vô/ Đời bao phúc hoạ/ Gieo gặt bất ngờ/ Mỏi không thể nghỉ/ Mệt không thể kêu/ Người im như bóng/ Tôi về với tôi/ May có đứa trẻ/ Còn ở trong hồn/ Cái nhìn xanh biếc/ Lung linh cội nguồn/ Trái tim thơ dại/ Tôi về với tôi”.

Bây giờ căn bệnh mất trí nhớ đã kéo nữ sĩ Lâm Thị Mỹ Dạ rời khỏi thơ. 

Đôi mắt trong veo từng nuôi dưỡng bao nhiêu khao khát, bây giờ chỉ còn chớp mở vào lãng quên: “Rồi cỏ sẽ xanh trên tên tuổi chúng ta/ Dòng sông sương mù trôi mãi/ Những tứ thơ không bao giờ trở lại/ Tôi đã ném đi rồi qua cửa sổ đời tôi”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.