Đất màu từ đất liền được chuyên chở ra. Đã có rau xanh. Đã có nước ngọt. Lại đã mới có điện. Các thiết chế văn hóa như Nhà văn hóa, Thư viện đã được hình thành. Cuộc sống đã được cải thiện nhiều, khác hẳn cái thời tôi ra làm phim ở đó. Nhưng chắc chắn vẫn còn rất nhiều thiếu thốn, khó khăn. Nghĩ đến những đồng đội thế hệ sau và không ít những đồng đội lớp trước, họ vẫn đứng chân trên đó, tôi không khỏi bồi hồi...
Vùng đảo chủ quyền
Ngày 14/4/1975, các đảo trên quần đảo Trường Sa đã lần lượt được giải phóng.
Theo một mũi tiến công của quân giải phóng do Tư lệnh Mai Năng chỉ huy, một tổ làm phim của Điện ảnh Quân đội nhân dân đã được cử đi theo và bộ phim phóng sự đầu tiên "Ghi chép trên quần đảo Trường Sa" của đồng đội, đồng nghiệp tôi đã ra đời. Tôi thực sự xúc động và háo hức về những hình ảnh mà bộ phim mang lại. Đó là quần đảo bão tố, quần đảo chỉ có cánh chim (hải âu) và người chiến sĩ. Nhà văn Hà Đình Cẩn, người viết lời bình cho phim đã viết: "Chim, bạt ngàn chim. Chim dạn dĩ với người tựa như cá với nước. Trên trời, dưới đất là chim. Và trứng chim nữa, nhiều không kể xiết".
Nhưng điều tôi quan tâm nhất, chuẩn bị cho chuyến đi của mình, trước hết , vẫn là vấn đề chủ quyền của vùng đảo.
Các tác giả của "Ghi chép trên quần đảo Trường Sa" cũng đã nhắc tới các tài liệu của Đỗ Bá và những điều ghi trong các sách "Đại Nam nhất thống chí", "Đại Nam thực lực chính biên", "Phủ biên tạp lục"... tất cả đều khẳng định chủ quyền của Đại Việt với quần đảo. Nhưng cho tới khi tôi đến làm phim về Trường Sa vấn đề vẫn cứ được đặt ra rất bức xúc.
Tôi nhớ đinh ninh lời của một đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ta: "Đất của ta, dẫu là cát, là sỏi hay một giọt nước ta cũng quyết giữ".
Tôi nghĩ đến các cán bộ, chiến sĩ đang làm nhiệm vụ trên các đảo của quần đảo Trường Sa, ngày ấy thật gian khổ, thiếu thốn. Thiếu nước ngọt, thiếu rau xanh. Bữa ăn chỉ có thịt hộp và cá biển tăng gia được song các anh vẫn trần mình với đảo, quyết tâm giữ vẹn toàn chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Có một Đảo trưởng đảo Trường Sa lớn ngày ấy, Đại úy Nguyễn Tiến Cai, khi nghe cấp dưới báo cáo ngoài khơi, cách vòng vành khăn chừng 800 - 1000m, thỉnh thoảng lại thấy gợn lên một đốm trắng, ông đã trực tiếp kiểm tra, và ông đã nhiều ngày, nhiều đêm mất ăn mất ngủ vì cái "đốm trắng" đó.
Cảnh giác luyện tập, sẵn sàng chiến đấu khi có kẻ dám đột nhập vào các đảo, đó là sự toàn tâm, toàn ý của những người lính đảo. Ý nghĩ ấy nung nấu tôi. Và tôi đã quyết định đặt tên cho bộ phim tài liệu về Trường Sa của mình là "Tổ quốc trên một vùng đảo nhỏ". Tất cả là sự hy sinh, chịu đựng của người lính đảo. Tất cả là để bảo vệ vẹn toàn chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Cây và hoa ở Trường Sa
Như đã nói, bây giờ thì ở các đảo trên quần đảo Trường Sa đã có nhiều đổi khác. Nhờ có đất màu từ đất liền cung cấp, môi trường sinh thái của các đảo trên quần đảo đã được cải tạo. Sức lao động biến cải của con người đã làm cho thiên nhiên nơi đây dần cũng ấm áp, quý mến con người hơn. Rất nhiều loại rau xanh: rau cải, rau muống, rau dền, cà chua, bầu, bí, mướp đã mọc xanh. Nhiều giống cây ăn quả, cây cảnh khác cũng đã được trồng nhân giống ở đây.
Nhưng ở Trường Sa, nhiều đảo gốc gác dường như chỉ có cát và vỏ san hô vỡ vụn cộng với hơi nước mặn của gió biển khiến cây trái không thể sinh trưởng và phát triển. Ở đảo Phan Vinh ngày ấy, ngay trước nhà Ban chỉ huy, một cây bàng quả vuông mới trồng được che chắn cẩn thận cũng chỉ mới nảy lên được vài lá. Ở đảo An Bang, trong đám "chậu" - ngăn bằng vỏ hòm đạn là một vài ngọn rau sam được che chắn kỹ cũng mới "ngoi" lên được một chút. Các chiến sĩ ở đây bảo với tôi: "Ở đây khó trồng và chăm sóc. Chúng em phải cố trồng một ít như thế, dành khi có người ốm có tí rau xanh".
Các đảo Nam Yết, Trường Sa lớn, nhất là Nam Yết thì nhiều cây hơn, cây cũng đặc biệt hơn. Nhưng cũng chỉ là những cây cho bóng mát hơn là cây ăn quả. Cây mù u có nhiều ở Nam Yết, cành lá rậm rạp, hoa màu vàng nở từng chùm như hoa roi, hoa gáo. Nam Yết cũng có nhiều bàng quả vuông. Lá bàng quả vuông gần giống như lá bàng thường ở đất liền nhưng hoa và nhất là quả thì rất khác. Quả không tròn, không hình bầu dục mà lại vuông. Còn ở đảo Trường Sa lớn thì có rất nhiều cây phong ba. Cây phong ba là một thứ cây thân gỗ, tên do chiến sĩ đặt. Lá to bằng lá ổi nhưng mọc vòng, có màu xanh nhạt, mặt trên lá nhẵn, mặt dưới có nhiều phấn, lá có nhựa có thể thái phơi khô làm thuốc hút. Hoa phong ba nở thành chùm như hoa sữa nhưng không có mùi thơm như hoa sữa. Cây phong ba được coi là biểu tượng về người chiến sĩ ở đảo vì nó được mọc trên cát sỏi san hô, rất dạn dày với nắng gió, can trường trước bão tố, phong ba.
Tuy vậy, ở Trường Sa, thứ cây - hoa - lá mà anh em yêu thích nhất vẫn là san hô. San hô có nhiều chủng loại. Nhiều nhất là san hô trắng, rồi thì san hô đỏ, đặc biệt là san hô đen và loại nhiều cành lá là san hô trúc. Hầu như các chiến sĩ khi được đi công tác hay về phép, thế nào trong balô của mình cũng có một vài cụm san hô làm quà cho đất liền.
Thực ra có thể nói: Trường Sa là quần đảo do sự tạo thành của san hô. Lòng các đảo của quần đảo, nếu dùng thuốn sắt thuốn sâu xuống sẽ thấy trống rỗng. Vì bản chất, "chất đất" ở đảo là san hô. Theo các nhà khoa học, san hô mỗi năm có thể lớn lên từ 1 đến 1,5mm. Lớp san hô già chết đi cứng lại thành nền, lớp san hô mới mọc lên kế tiếp vào đó. Chính vì vậy, có nhiều đảo, bây giờ là đảo chìm, 20 - 30 năm nữa đảo sẽ nhô cao. Đây cũng là một nét thêm vào sự trưởng thành kế tiếp ngày một rõ ràng, tươi sáng của quần đảo với sự gắng sức đầu tư xây dựng của con người.
Đảo là nhà, biển cả là quê hương
Tôi đã được nghe và đưa vào trong kịch bản của mình câu chuyện về 7 cán bộ, chiến sĩ của đảo Phan Vinh, bảy ngày tám đêm trôi dạt. Người có mặt trong số 7 người bị trôi dạt là Vũ Hà, ngày ấy là Thượng úy - Đảo trưởng của đảo, quê ở Gia Lâm - Hà Nội. Anh đã kể cho chúng tôi nghe và cũng đã kể trong phim về sự cố ấy. Chuyện bắt đầu bằng việc một chiến sĩ của đảo không may bị dòng nước xoáy ở sát mép nước cuốn đi. Sáu người khác, trong đó có đảo trưởng đã xuống một chiếc xuồng, vội vã lao theo. Đưa được người chiến sĩ lên xuồng thì trời bỗng nổi cơn giông bão và xuồng của họ cứ thế bị sóng cuốn trôi đi. Bảy ngày tám đêm. Họ đã bị trôi đi rất xa, may dạt vào một vòm đá thì trời lặng. Bảy ngày tám đêm họ không có chút gì đem theo để sống kể cả những thứ cần như diêm, bật lửa. Bảy ngày tám đêm chỉ đôi khi bắt được con chim hay con tôm, con cá, ghè đá lấy lửa nướng ăn. Khát nước thì cố tìm những vũng nước mưa đọng trên hõm đá hoặc tiểu tiện ra cho nhau uống. Ngày ấy chưa có điện thoại di động. Họ đành cứ sống vật vờ bên vòm đá chờ tàu của quân chủng đến cứu. Rồi họ vẫy những tàu hàng của các nước đi qua. Và cuối cùng họ cũng đã được đưa trở về đơn vị.
Thế đấy, cuộc sống hết sức gian khổ thiếu thốn và cả những nguy hiểm nữa, nhưng về được đảo không ai muốn rời xa đồng đội của mình. Bởi họ luôn tâm niệm câu khẩu hiệu đã trở thành khẩu ngữ: "Đảo là nhà, biển cả là quê hương".
Ngoài thời gian luyện tập học hành, họ cũng có thời gian sinh hoạt vui chơi. Tất nhiên là sân chơi chật hẹp. Nhưng ở đây lại có nhiều thứ mà đất liền không có. Thú chơi ở đảo là tìm kiếm vỏ ốc, câu cá, săn vích, bắt hải sâm, cũng như tìm kiếm san hô để dành khi đi phép, đi công tác về làm quà cho đất liền. Các loại ốc mà họ thích là ốc nón và đặc biệt là ốc có vân, có chấm đen mà họ quen gọi là ốc "nàng ngâm". Sinh thời Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Quân chủng khi ra đảo kiểm tra, đến thăm họ, thấy họ nói là ốc "nàng ngâm", ông đã cười và bảo: "Sao không gọi luôn là ốc "Lườn ngâm"".
Câu chuyện khiến họ có lúc cộn lên nỗi nhớ quê, nhớ nhà. Nhưng chỉ thế thôi, chứ với công việc và nhiệm vụ của mình thì họ đã xác định: Còn trong quân ngũ, trong quân chủng thì họ sẽ hết lòng son sắt với đảo, với biển xanh.
Bộ phim "Tổ quốc trên một vùng đảo nhỏ" do nhóm làm phim Quân đội chúng tôi thực hiện ngày ấy đã hoàn thành ngay sau khi rời đảo ít lâu và đã được giải nhì tại Liên hoan phim Quân đội các nước xã hội chủ nghĩa tổ chức tại Rôxtốc (Cộng hòa dân chủ Đức cũ) năm 1982 và được giải Bông sen Bạc trong Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 6 (Tp HCM, 1983).
Chuyến đi đã cho tôi nhiều điều may mắn. Một trong những điều may mắn ấy chính là giúp tôi hiểu sâu sắc thêm tình cảm của những người ở đảo, mà giờ đây khi viết những dòng này tôi vẫn còn hết sức bồi hồi...