Nhà viết chèo cổ Trần Đình Ngôn: Người cuối cùng trên sân ga

Chẳng biết từ đận nào người ta gọi ông là “vua chèo”, đồ rằng sau khi nhà viết chèo nổi tiếng Tào Mạt tạ thế thì người đời mới chú ý đến ông - cây viết chèo Trần Đình Ngôn. 

Oan quá! Thật ra, ông đã theo nghề chèo từ khi là cậu thanh niên, đóng góp công sức giữ gìn vốn chèo cổ suốt mấy thập niên qua.

Những người đặc biệt thường có số phận đặc biệt và sẽ làm nên những điều đặc biệt. Quả không sai, nhà viết chèo cổ cuối cùng còn sót lại Trần Đình Ngôn là một người như thế. 

Quê ông ở Nam Sách, Hải Dương, ngôi làng bên bờ sông Cái hay còn gọi là sông Kinh Thầy, nước chảy dập dềnh mêng mang quanh năm và người dân trong làng sống bằng nghề mò cua bắt ốc, trồng trọt cấy cày. 

Số phận của ông ngay từ khi chào đời đã không giống như bất kì đứa trẻ nào cất tiếng khóc trong ngôi làng nhỏ ấy. Gia phả ghi lại đằng nội của ông nhiều đời được học chữ thánh hiền và biết làm câu đối. 

Ông nội của ông là cụ Khoá Thiềm thông đạt y, nho, lý, số, sau này ông nội truyền cho cha ông. Mẹ ông là người phụ nữ tần tảo nết na con nhà thuần nông được cha mẹ gả cho cha ông. Tuy không được coi là môn đăng hộ đối, nhưng cũng gọi là gái sắc trai tài gặp nhau. 

Họ nên duyên từ chuyện bàn tính của hai bên gia đình mà không có sự chọn lựa, nhưng tình yêu sớm đơm hoa kết trái trong căn nhà nhỏ ba gian nơi làng quê, đêm nghe tiếng ếch kêu, ngày cùng nhau ra đồng làm ruộng. 

Về làm vợ đã lâu nhưng bà chỉ sinh được hai mụn con gái. Điều này khiến bà buồn phiền day dứt, cảm thấy có lỗi với gia đình nhà chồng. Sau những tháng ngày buồn tủi, bà đi đến quyết định thưa chuyện với chồng và cha mẹ chồng đồng ý để chồng mình lấy lẽ. Nhưng bà cũng xin người vợ lẽ ấy là người em ruột kém 10 tuổi của mình vừa lâm vào cảnh góa bụa, để những đứa con không phải chịu cảnh khác máu tanh lòng.

Vậy là cha ông lấy lẽ, và thật kì lạ, người vợ lẽ mãi không sinh được con, còn người vợ cả nửa năm sau đã bụng mang dạ chửa. Ngày ấy, đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời ở đống rơm vang khắp cả sân nhà, cậu bé ấy chính là Trần Đình Ngôn. 

Làng quê Việt thời đó đậm chất thi ca với những cánh chuồn ở bờ ao, đàn bò trên triền cỏ xanh, những chú trâu trầm mình nơi mương nước, với mái đình, giếng nước, gốc đa, cả những đêm trăng thanh gió mát, ánh trăng quê sáng vằng vặc rẽ mây in xuống mặt nước. 

Hình ảnh “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi” cứ ngày ngày in sâu vào tâm hồn cậu bé, để sau này góp phần thai nghén nên những kịch bản chèo nổi tiếng về thân phận người phụ nữ thôn quê.

Nhà viết chèo Trần Đình Ngôn thừa nhận, chính vì được sinh ra và lớn lên, được tắm mình ở trong không gian làng quê, với mùi hương ngai ngái của đất, mùi rơm rạ hương lúa, mùi nồng nàn hoa bưởi quện trong tóc của những người đàn bà là mẹ, là chị, là cô, là dì, mà tâm hồn ông luôn rung động và đầy xúc cảm. 

Hình ảnh những đứa trẻ thơ ngủ ngon trên bầu vú mẹ, cái yếm nâu sồng giản dị đã được ghi lại sắc nét trong tâm trí ông. Và, kì lạ thay, mẹ ông cũng như bao người đàn bà ở ngôi làng đa phần đều không biết chữ, họ chỉ biết điểm chỉ (lấy ngón tay nhúng vào mực in lên giấy) thay cho chữ kí, nhưng ở họ là cả một kho tàng những câu ca dao, tục ngữ. 

Ông kể, ngày còn nhỏ ông chứng kiến cảnh mẹ mình hát ru em. Mẹ ông thuộc nhiều ca dao, bà có thể hát ru con hàng tiếng đồng hồ và không bao giờ bị trùng lặp. Bà thuộc cả quyển thơ Truyện Kiều theo kiểu truyền khẩu. Cậu bé Ngôn cứ lớn lên như hạt ngô, hạt lúa ở cái làng quê êm đềm, thơ mộng ấy. 

Miệng ăn núi lở, cha ông tuy thông thạo chữ thánh hiền nhưng vẫn phải đi kéo vó bè để nuôi cả gia đình chục miệng ăn. Áo quần vá chằng, vá đụp, bữa ăn độn sắn, độn ngô. Cuộc sống nghèo khó nhưng cha ông vẫn cố gắng gửi con lên tỉnh học vì ông mong muốn con trai mình sẽ thi đỗ Đại học Tổng hợp văn. 

Năm 19 tuổi, Ngôn đang học lớp 10 thì có người biết tiếng Ngôn văn chương mượt mà, lại khúc chiết đã viết thư ngỏ ý mời cậu về làm ở đoàn chèo Tả Ngạn Hải Phòng, vừa viết kịch bản vừa dạy bình dân học vụ cho anh chị em ở trong đoàn. 

Bức thư được viết tay, lời lẽ thống thiết, khiến người đọc rưng rưng cảm động. Cha ông, phần vì không có tiền cho con đi học nên đành đồng ý. Đây chính là môi trường tốt để tố chất và vốn văn chương tiềm ẩn của ông được dịp bung toả.

Ông về đoàn chèo công tác và lấy vợ ở đây. Vợ ông là con của một diễn viên nghiệp dư ở một nhà máy Hải Phòng. Bố cô gái sau khi tiếp xúc thấy cậu thanh niên văn chương tài hoa thì liền giới thiệu rồi đồng ý gả con gái cho. 

Sau này khi về Hà Nội công tác, ông đã đưa cả gia đình về với đất thủ đô. Ngày ấy, cuộc sống hai vợ chồng ông cũng như bao gia đình nghệ sĩ khác lâm vào vào cảnh túng bấn, cơ hàn. Ai đó đã nói văn sĩ là hàn sĩ quả không sai. 

Vợ ông lần lượt sinh cho ông hai người con, một trai, một gái. Họ sống trong một căn nhà nhỏ, tuềnh toàng mái dột, mỗi khi mưa xuống thì nước chảy tong tỏng phải lấy xô chậu hứng. 

Ông kể, có những hôm dắt xe đạp ra đến chợ, tần ngần vét những đồng xu cuối cùng trong túi mua mớ rau muống rồi lững thững ra về, cũng chả đủ tiền mua quả chanh để vắt vào nước canh. 

Trên đường về thấy quả sấu trên cây sấu già rụng dưới lề đường, dừng xe xuống nhặt về dầm nước canh. Bữa cơm ngày ấy của gia đình chỉ có rau muống luộc chấm nước mắm, và lạc rang, hôm nào sang lắm thì có thêm đĩa trứng tráng. Thịt, cá là hai món xa xỉ chẳng dám nghĩ tới.

Giấy rách phải giữ lấy lề, ông vẫn nghĩ vậy và đã làm vậy. Một thời sân khấu chèo cổ chao đảo nhường cho chèo cải biên. Nhà viết chèo phải sửa lại theo hướng hiện đại để đáp ứng  thị hiếu của khán giả. 

Một cảnh trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính”. Ảnh: L.G.
Một cảnh trong vở chèo “Quan Âm Thị Kính”. Ảnh: L.G.

Có lần, Trần Đình Ngôn sau khi nhận lời đã hì hụi viết một kịch bản chèo tâm đắc, nhưng sau đó ông được thông báo người ta sẽ sửa kịch bản ấy từ chèo cổ sang chèo hiện đại. Ông liền từ chối thẳng thừng, mặc dù ông biết nếu đồng ý ông sẽ nhận được khoản tiền cho vợ con ăn thịt cả tháng.

Cuộc sống dần khấm khá hơn, lúc ấy ông cũng đã học thạc sĩ văn học nhưng về quê nhà thì cha ông đau bệnh qua đời. Người cha khi mất vẫn đau đáu cả cuộc đời chả có tiền cho con học đại học. Ông về quê thăm mẹ, mang bánh cốm phố Hàng Than biếu cụ. 

Cụ già lặng lẽ bóc bánh ăn, thủng thẳng nói: “Tiếc quá! cha anh khi sống chả bao giờ được miếng bánh ngon như thế này”. Ông xót xa nói: “U cứ ăn đi, con đã mang bánh thắp hương trên bàn thờ cha rồi”. Nay cha mẹ ông đã về với tổ tiên, đời người như giấc mộng, thịnh suy luân kiếp.

Còn một năm nữa là ông bước sang tuổi 80, lẽ ra đã được vui vẻ thảnh thơi. Nhưng sự cố đã xảy ra vào mùa hè năm 2015. Người con trai độc nhất của ông, nhà viết chèo trẻ Trần Đình Văn 40 tuổi, một cây bút đang sung sức, qua đời đột ngột vì nhồi máu cơ tim tại nhà riêng sau khi nhận giải “Nhà biên kịch xuất sắc nhất của Hội diễn chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 2013”. 

Sự ra đi của người con trai khiến vợ chồng ông suy sụp, nỗi mất mát ấy quá lớn, nước mưa ngoài trời như nước mắt của ông giáo già. Hằng đêm, hai vợ chồng vẫn mang những tác phẩm chèo của con ra đọc, ngắm nghía, giọt lệ lại rơi trên trang viết còn dang dở. Những chuyến tàu định mệnh đã đi qua, sân ga chỉ còn lại duy nhất người lữ hành cô độc.

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.