Nhà văn Bảo Ninh: “Nói không buồn thì không đúng!”

Nói về "Nỗi buồn chiến tranh" bị trượt giải thưởng Nhà nước, nhà văn Bảo Ninh cho rằng nói không buồn thì không đúng, vì ông buồn cả về việc những người bạn không được giải thưởng trong dịp này.

Mấy ngày qua, trước thông tin nhà văn Bảo Ninh bị trượt giải thưởng Nhà nước, có rất nhiều diễn đàn báo chí, các trang mạng xã hội, những người yêu quý nhà văn Bảo Ninh và tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” đã lên tiếng. 

Theo đánh giá của hầu hết những người yêu văn học thì “Nỗi buồn chiến tranh” có một sức sống mãnh liệt vì nó viết về một thế hệ, một thời kỳ không thể nào quên của cả dân tộc.

Cuốn sách đã đoạt giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991, và đây cũng là cuốn tiểu thuyết Việt Nam được dịch và đọc nhiều trên thế giới. Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện độc quyền với nhà văn Bảo Ninh.

“Nỗi buồn chiến tranh” bị trượt Giải thưởng Nhà nước

- Phóng viên: Thưa nhà văn Bảo Ninh, mấy ngày vừa qua, anh tắt điện thoại, tránh xa tất cả những thăm hỏi của bạn hữu, báo giới về vấn đề anh bị trượt giải thưởng Nhà nước. Tuy nhiên, nói gì thì nói, tôi cho rằng mình không thể trốn tránh dư luận mãi được. Và với tư cách là nhân vật chính trong cuộc, anh có buồn không, và nếu thực sự để có một suy nghĩ từ tận đáy lòng vào thời điểm này, anh sẽ nói gì?

- Nhà văn Bảo Ninh: Tôi không tắt máy, mà vì mất điện thoại nên mua máy khác, số khác. Nói không buồn thì không đúng, vì tôi buồn. Tôi không nói cái buồn chỉ của riêng tôi mà tôi buồn cả về việc những người bạn, nghe nói, không được trong dịp này. Họ là những nhà văn tên tuổi trong thế hệ văn bút thời tôi: Văn Lê, Nguyễn Phan Hách, Hồ Anh Thái... 

Mặt khác, nhà báo thấy đấy, nói nhiều về nỗi buồn của chúng tôi thì vô hình trung lại là đang xúc phạm những nhà văn sẽ đoạt giải, trong số các anh chị mà tôi biết, theo tôi, rất xứng đáng.

- “Nỗi buồn chiến tranh” là một tác phẩm văn học về đề tài chiến tranh cách mạng đã nổi tiếng gần 30 năm qua, được ghi nhận trên nhiều lãnh thổ, nhưng tại sao, theo anh, vẫn có một số người không bỏ phiếu cho nó?

- Điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố. Nỗi buồn chiến tranh khi ra đời đã có nhiều sự ồn ào sau đó và có lẽ, đến bây giờ sự ồn ào xưa cũ ấy vẫn nặng dư âm. Tôi cũng không biết cụ thể là như thế nào. Nhưng tôi biết là các anh trong Hội Nhà văn đã bảo vệ anh em hết mình, nhưng họ chỉ có 4 trên tổng số 28 người, 28 ý kiến khác nhau và những ghi nhận khác nhau thì cũng khó để có thể đồng thuận... Bản thân tôi lại viết được quá ít. Một tiểu thuyết, dăm chục truyện ngắn.

- Sau những ồn ào, hình như, nhà văn Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đang có ý kiến kiến nghị bỏ phiếu lại cho trường hợp của anh, nhà văn Bảo Ninh. Anh nghĩ thế nào về việc này, và anh có chuẩn bị tinh thần cho những trường hợp sau đó xảy ra với mình?

- Chuẩn bị tinh thần? Gì dữ vậy? Mà thực ra, việc được hay không được giải thưởng đã chính thức đâu. Với lại, đọc báo tôi được biết, Hội nhà văn có 29 hội viên dự vào đợt giải thưởng này. Nhà thơ Hữu Thỉnh và các anh trong Ban Chấp hành đảm trách 29 trường hợp, chứ đâu riêng trường hợp nào.

- Nếu lần này, nói dại mồm, bỏ phiếu vẫn không “lọt”, liệu sang năm anh có tiếp tục làm hồ sơ Giải thưởng Nhà nước nữa không?

- Hội Nhà văn đã rất chu đáo khi mỗi năm đều gửi các giấy tờ liên quan cho các Hội viên để kê khai các hạng mục giải thưởng về văn học nghệ thuật. Tôi cũng như nhiều người khác, đã làm với đầy đủ trách nhiệm cũng như tinh thần của mình. Dĩ nhiên, được hay không còn do nhiều yếu tố như bạn thấy. Mỗi một thế hệ sẽ có những đợt giải thưởng như thế. Và nếu năm nay không được thì tôi sẽ chờ để đồng hành cùng đợt của các thế hệ trẻ sau rất nhiều năm nữa...!(cười!).

- Nhà văn Bảo Ninh là người lặng lẽ, thậm chí tránh xa rất nhiều những diễn đàn văn chương trong nhiều năm nay. Sau “Nỗi buồn chiến tranh” anh viết nhiều truyện ngắn và những ghi chép tản mạn. Thú thật là với bản thân tôi, khi đọc anh, dù đó là gì thì cũng có cái để đọc, để mê mẩn. Tại sao lâu nay anh dừng lại không tiếp tục những mạch nguồn và vỉa quặng đang đầy ắp trong mình?

- Cho miễn bàn được không, nhà báo. Hay là để dịp khác đi.

- Anh là một người lính thực thụ đi qua chiến tranh, đi qua để nếm trải và viết. Nhân chuyện này, nếu nhớ lại thời kỳ viết “Nỗi buồn chiến tranh”, anh nhớ nhất kỷ niệm nào về một thời làm lính của mình?

- Nhân bạn nhắc về kỷ niệm đời bộ đội của chúng tôi, tôi muốn tặng bạn và rồi sẽ viết một bài giới thiệu cuốn truyện ký Lính sư 10 để gửi đăng lên báo bạn nhé. Đây là tập hồi ký và truyện kể của  anh em cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 10 bộ binh Mặt trận Tây Nguyên do Nhà xuất bản Hội Nhà văn mới xuất bản. Tôi cũng có viết và tham gia biên soạn cuốn sách ấy.

Tôi đã “mệt nhoài” khi viết “Nỗi buồn chiến tranh”

- Nói đi nói lại thú thật là có quá nhiều điều để viết về “Nỗi buồn chiến tranh”. Có hàng trăm luận văn, luận án viết về những vấn đề liên quan đến nó. “Nỗi buồn chiến tranh” cũng là cuốn tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên từ trước đến giờ được dịch và được đọc nhiều nhất trên thế giới. Khi viết cuốn sách này chắc anh không nghĩ đến một ngày nó lại nổi tiếng đến như thế?

- Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 cho đến nay vẫn được độc giả nhớ đến nhiều bởi giải thưởng ấy ghi dấu chặng đường năm năm trời đột khởi của văn học nhờ Đổi Mới đất nước.

Theo tôi, Đổi Mới là một cách diễn đạt nhẹ nhàng, chứ còn trong thực tế đấy là cả một cuộc cách mạng. Nó có tác động lớn lao và sâu rộng đến mọi mặt của đời sống. Văn học hồi đó thể hiện được rất sâu sắc sự đổi thay ấy. Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng... và các nhà thơ.  Ấy là những tên tuổi tiêu biểu cho sự đổi thay và vươn lên kỳ diệu của tâm hồn dân tộc thể hiện qua văn học trong những năm tháng không thể nào quên ấy. 

Cuốn Nỗi buồn chiến tranh nhận được giải thưởng vào thời kỳ đặc biệt quan trọng đó nên mặc dù tác giả mới ra ràng vẫn được chú ý. Tác phẩm được sự đánh giá cao của các nhà văn và nhà phê bình hàng đầu như Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Hữu Thỉnh, Vũ Tú Nam, Vương Trí Nhàn, Hoàng Ngọc Hiến, Lê Ngọc Trà, Trần Đình Sử... nên càng có thế mạnh. 

Theo tôi được biết, dịch giả Phan Thanh Hảo, F, Palmos, Võ Băng Thanh, A, Perce đã dịch Nỗi buồn chiến tranh ra tiếng Anh một cách kỹ lưỡng, trau chuốt, đậm đà. 

Nói tóm lại, nhờ không khí Đổi Mới, nhờ được dịch rất tốt mà cuốn Nỗi buồn chiến tranh đã nhập được một cách dễ dàng và bình thường vào hệ thống xuất bản của nước mình và của thế giới. Tuy nhiên đây không phải là cuốn đầu tiên. Trước đó đã có nhiều tác phẩm văn học Việt dịch ra tiếng Nga, Đức, Pháp, Trung Quốc, Hàn, Nhật... Hiện nay lại càng nhiều hơn.

- Anh đã viết cuốn sách này trong tâm trạng như thế nào?

- Mệt nhoài. Khi viết tiểu thuyết thì ai cũng vậy cả.

- Có thể thấy, Kiên là một nhân vật đầy mâu thuẫn với nhiều cảm xúc trái ngược của người lính trong chiến tranh và cả khi hòa bình, nhân vật đó có dáng dấp của anh?

- Ngay buổi trưa, buổi chiều, buổi tối ngày toàn thắng đã rất nhiều cảm xúc xáo trộn tâm hồn anh bộ đội. Vinh quang rạng ngời, hạnh phúc tột đỉnh của bản thân mình, của đồng đội và đất nước. Mừng vui, ước mơ. Song cũng đã lập tức đập vào mắt họ những biểu hiện manh nha của những sự thật đáng buồn và đáng căm phẫn mà ngày hôm nay chúng ta thấy đầy rẫy trong đời sống thường nhật.

- Phần nào vì thế nên có lần cuốn sách đã đổi tên thành “Thân phận tình yêu” chăng?

- Thân phận tình yêu là tên đặt tạm thời cho lần xuất bản đầu tiên.

- Anh thích cái tên sách nào hơn?

- Nỗi buồn chiến tranh!

- Nói thế thôi, trong số những tác phẩm viết về chiến tranh thì “Nỗi buồn chiến tranh” là cuốn sách dễ đọc nhất, nó như một sự “gây nghiện” vì đọc trang trước lại muốn biết về trang sau. Liệu khi viết, anh có mê say tác phẩm của mình như người đọc?

- Cám ơn bạn. Còn sự say mê khi viết thì nhiều nhà văn đã tự miêu tả. Tôi không khác và không nói hơn được.

- Có cả sự dằn vặt, đau đớn, tiếc nuối… và những cảm xúc vui buồn đan xen nữa chứ, thưa nhà văn?

- Vâng. Thì vậy mà. Con người, chiến tranh, tuổi trẻ, tình yêu...

- Cuốn sách có những trang viết thật đẹp, rất giàu hình ảnh, thật lòng thì anh thích phần nào nhất trong cuốn sách?

- Chỉ trừ phi là một cuốn sách rất tệ, còn thì tác phẩm văn học nào cũng có những trang đáng đọc. Đã viết văn thì phải cố hết sức ở mức có thể nhất của mình cho chữ nghĩa. Đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta thường nói vậy và mong vậy, nhưng cụ thể là gì? Theo tôi, đối với nhà văn, thì bản sắc đậm đà ấy trước nhất và quan trọng nhất là sức mạnh câu chữ, là tình yêu tiếng Việt được thể hiện ra sao trong tác phẩm.

- “Nỗi buồn chiến tranh” thành công cả trên phương diện nghệ thuật, bản thân anh khi viết có sử dụng tới lý thuyết nào không?

- Sau chiến tranh còn tương đối trẻ nên hiệu sách có gì tôi đọc tất. Nghĩa là đọc cũng nhiều, song hồi đó cái gì cũng một chiều, kể cả tư duy và sách vở. Nên đọc nhiều mà chẳng nhiều nhặn gì lại lộn xộn. 

Tôi chủ yếu học được rất nhiều từ tác phẩm và những lời chỉ bảo của các nhà văn bậc cha chú và bậc đàn anh: Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang Sáng, Triệu Bôn, Hồng Phi, Chu Lai, Cao Tiến Lê... Và, các nhà văn ấy, có thể nói về lý thuyết là các nhà văn hiện thực chủ nghĩa.

- Thời gian viết “Nỗi buồn chiến tranh” trông anh thế nào?

- Hồi đó cái gì cũng một chiều, kể cả ăn bận và dung mạo. Bạn cứ coi bất kỳ bức hình chụp người nào cỡ bốn chục tuổi sống tại Hà Nội những năm đầu thập niên 90 thì tôi trông y thế.

- Là người đã tham gia chiến tranh, viết về nó, bây giờ nghĩ lại anh cảm thấy thế nào?

- Chiến tranh là đề tài văn học tuyệt hay mà tôi lại may mắn rất am hiểu. Tiếc là các nhà văn trẻ và cả độc giả trẻ ngày nay không còn quan tâm nhiều tới đề tài văn học ấy.

- Có ý kiến cho rằng, “Nỗi buồn chiến tranh” thành công một phần bởi nó ra đời đúng thời điểm?

- Thì như lúc đầu tôi thưa với bạn đấy. Nhờ đất nước và văn học bước vào thời Đổi Mới.

- Anh là nhà văn có ý thức chuyên nghiệp, có bao giờ anh bị chi phối bởi những cám dỗ (ngay cả những ham thích lặt vặt) của đời sống?

- Mọi sự của đời sống đều không lặt vặt và đều đáng để người ta bị cám dỗ, hoặc chí ít là khiến người ta phải chú ý tới và bị phân tâm. Càng là dân viết văn thì lại càng bị thế. Đời sống thôi thúc bạn viết văn lại cũng ngăn bạn ngồi vào bàn cặm cụi viết lách.

- Vâng, xin cảm ơn nhà văn Bảo Ninh!

Trần Hoàng Thiên Kim

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.